Nếu ai đó hóa thân thành một cánh chim bay lượn trên bầu trời Salonia, họ sẽ thấy nơi này tựa như những cụm nấm mọc lên trên tấm thảm trải dài sắc vàng nâu. Thị trấn ấy hưng thịnh nhờ giao thương nội địa, và vốn dĩ nó là kiểu nơi như vậy.
Xưa kia, đây chỉ là một vùng đất trống, nơi các làng nông nghiệp lân cận thường dùng để trao đổi nông sản, nhưng mọi chuyện đã thay đổi khi một vị tu sĩ lữ hành xuất hiện và dựng lên một nơi ẩn dật. Lần đầu tiên khu vực này có một nơi thờ phụng, thế là dân địa phương bắt đầu ghé thăm thường xuyên hơn, từ đó thu hút các thương nhân tìm đến làm ăn, kéo theo những bức tường thành được dựng lên, quán trọ mở cửa và đường sá được lát đá. Cứ thế, một thị trấn đã ra đời.
Salonia nổi tiếng với những phiên chợ diễn ra hai lần mỗi năm; và phiên chợ mùa thu năm nay cũng náo nhiệt như thường lệ.
Tuy nhìn bề ngoài có vẻ thành công, nhưng sự thực là nền móng của phiên chợ đang phải vật lộn dưới một vấn đề nan giải, khiến vài cá nhân thậm chí đã bị tống vào ngục tối.
Giữa lúc dân thị trấn còn đang than vãn về nỗi lo âu, có vài lữ khách vừa đặt chân đến đã tìm ra cách giải quyết vấn đề. Giải pháp ấy kỳ diệu đến mức được ghi lại trong sử biên niên của thị trấn.
Khi rắc rối đè nặng lên trái tim người dân Salonia, một cặp đôi lữ khách kỳ lạ đã đến thị trấn…, bản ghi chép ấy đã bắt đầu như thế.
Người chồng tự xưng là một thương nhân lưu động đã giải nghệ, nhưng trước khi đến Salonia, anh ta đã hóa giải được bí ẩn tại một nơi bị coi là ngọn núi nguyền rủa và bán lại nó cho Công ty Debau với giá cao. Vị thương nhân sắc sảo đã giải nghệ này đã xóa sạch nợ nần bủa vây người dân trong trấn mà không tốn lấy một đồng xu nào.
Dù sở hữu khả năng phán đoán hiếm có, anh vẫn luôn nhún nhường trước cô vợ trẻ, và người dân Salonia thường thấy cô nắm thóp anh chặt chẽ đến thế nào. Không lâu sau, dân thị trấn bắt đầu thì thầm với nhau—có lẽ tài năng buôn bán của anh đều là nhờ vào vợ mình. Những lời đồn thổi ấy hẳn bắt nguồn từ khí chất áp đảo kỳ lạ tỏa ra từ cô, bất chấp vẻ ngoài trẻ trung.
Cô gái có mái tóc màu lanh, đôi mắt đỏ màu hổ phách, cách nói chuyện như người thời cổ, vừa tinh quái lại vừa ngọt ngào. Cô là một tay sâu rượu đáng nể, đánh bại mọi gã đàn ông trong trấn dám đến thách thức, nên tất nhiên vị cựu thương nhân kia cũng chẳng phải đối thủ của cô.
Cặp đôi đến thị trấn vào đầu mùa thu, và sau khi phô diễn tài năng giải quyết rắc rối cho Salonia, họ đã tận hưởng quãng thời gian lưu lại đây. Nguyện Chúa dõi theo họ…
Sau khi đọc xong bản thảo sử biên niên của thị trấn, Holo khẽ hếch mũi đầy tự hào. Lawrence, người ngồi bên cạnh cũng vừa đọc xong văn bản đó, chỉ biết nở một nụ cười khổ.
“Sao họ viết về em nhiều hơn cả anh thế này?”
“Em là Holo Hiền giả Sói mà. Kẻ viết sử biết nhìn người đấy chứ.”
Dù vẻ ngoài trông như một thiếu nữ bình thường, nhưng sự thực Holo lại có đôi tai sói dựng đứng trên đầu và một chiếc đuôi bông xù mọc ra từ sau lưng—cô là một hóa thân của sói đã sống qua nhiều thế kỷ.
Cô từng được thờ phụng như một vị thần, nên một chủ nhà tắm bình thường như Lawrence làm sao bì kịp; sự kiêu hãnh của cô cũng là lẽ tự nhiên.
Holo bắt đầu thích thú với việc ghi lại những ngày thường nhật vào nhật ký, nhưng giữa những gì cô tự viết và những gì người khác viết về mình có một sự khác biệt đáng kể.
“Liệu chúng ta có thể đặt vẽ một bức tranh về chuyện này không?”
Cô đã được nếm trải sự xa hoa đó với bức bích họa tại thị trấn cảng Atiph.
“Chẳng bức họa nào lột tả hết được vẻ đẹp của em đâu,” Lawrence đáp.
Mới đầu Holo tỏ ra đắc ý, nhưng rồi cô bĩu môi khi nhận ra anh đang trêu chọc mình. Họ nhìn nhau trong im lặng, rồi chẳng mấy chốc cả hai cùng bật cười.
“Lúc đi trả bản thảo này, chúng ta tìm gì đó ăn nhé?”
“Phải đó, thỉnh thoảng em cũng thèm cá lắm.”
Cô cũng đã bắt đầu ưa thích cá tươi kể từ hồi ở Atiph.
Lawrence định kiểm tra lại cân nặng túi tiền của mình, nhưng rồi nhận thấy Holo đang chìa tay về phía anh.
Anh nắm lấy tay cô, và cô nở nụ cười rạng rỡ.
Làm sao anh có thể cưỡng lại được khi cô cười với anh như thế đây?
Lawrence khẽ cười thầm—hóa ra sử biên niên viết đúng thật. Cả hai cứ thế cùng rời khỏi phòng trọ.
~~~
Khi Lawrence và Holo đến nhà thờ để trả bản thảo, họ thấy một đám đông đang đổ ra khỏi tòa nhà; thánh lễ buổi trưa vừa kết thúc. Vài thương nhân nhận ra Lawrence và khẽ chạm tay vào vành mũ chào hỏi. Anh thấy hơi ngượng khi bỗng dưng thành người nổi tiếng, nhưng Holo thì ngược lại, cô đang tận hưởng điều đó. Cứ như thể cô muốn khoe rằng chính cô là người đã làm nên tên tuổi cho anh vậy.
“Ồ, anh Lawrence.”
“Chào cô Elsa”.
Khi cả hai bước vào trong, họ gặp một nữ linh mục với mái tóc búi chặt, đang ôm một xấp kinh văn nặng trịch.
Cô là một người quen cũ mà Lawrence gặp không lâu sau khi quen Holo, trên hành trình tìm về quê hương của cô. Không chỉ vậy, Elsa chính là người đã cử hành hôn lễ cho họ; điều đó cộng với tính cách sắc sảo khiến cô trở thành người thứ hai mà Lawrence sẽ lắng nghe mà không thắc mắc—tất nhiên người thứ nhất là Holo rồi.
“Chúng tôi đến để trả bản thảo đây. Đọc mấy thứ đó hơi ngại thật đấy.”
“Điều đó chỉ chứng tỏ các người đã làm rất tốt. Tôi vẫn khó lòng tin được anh lại thực hiện được việc đó.”
Lawrence đã giải thoát mọi người khỏi nợ nần mà không cần đến một đồng bạc nào trao tay. Nói ra thì nghe như ma thuật, nhưng thực chất việc giải quyết vấn đề cốt lõi cũng không đến mức quá xa rời thực tế.
Lawrence trao lại xấp giấy, và Elsa đón nhận nó một cách cẩn thận, như thể vẫn còn những bí mật ẩn giấu bên trong.
“Hậu quả sau đó mới là thứ khiến cô đau đầu nhất phải không, cô Elsa?”
Một khi tin tức về cách Lawrence xóa nợ lan rộng, lẽ tự nhiên là những người khác cũng bắt đầu tự hỏi liệu họ có thể làm điều tương tự với khoản nợ của mình không. Nhưng nợ nần là một chủ đề nhạy cảm, và vì công việc này đòi hỏi phải tháo gỡ mắt xích liên kết mọi người lại với nhau, nên nhà thờ Salonia chính là trung tâm của mọi chuyện. Chính lúc này Elsa được gọi đến để tiếp quản—cô không chỉ giỏi chữ nghĩa và tính toán, mà đức tin của cô cũng vô cùng kiên định.
“Đã giải quyết xong trong ba ngày với đầy nhiệt huyết. Đó không phải vấn đề gì quá lớn đâu.”
Đôi mắt màu mật ong trong vắt của cô cho thấy cô không hề nói vậy chỉ để an ủi anh hay chính mình. Lawrence khâm phục cúi đầu, đúng lúc Elsa lên tiếng lần nữa.
“Nhắc mới nhớ,” cô nói. “Sáng nay có một cỗ xe mang đến thứ khá thú vị. Tôi đã hy vọng có thể đưa nó cho cả hai.”
Lời cô nói thu hút sự chú ý của Holo, người đang ngáp dở. Elsa đưa cho họ một cuốn sách nhỏ cô kẹp trong chồng kinh văn.
“Các đoạn trích chọn lọc từ bản dịch kinh văn sang tiếng bản địa của Đức Hồng y Chạng vạng. Tôi nghĩ nó đã được dịch rất tuyệt vời.”
Có một tông giọng trêu chọc không mấy đặc trưng của cô khi nhắc đến cái tên Đức Hồng y Chạng vạng. Và lý do cô gọi cuốn sách nhỏ đó là “thú vị” không phải vì cô là một nữ giáo sĩ mộ đạo.
Người hiện lên ngay lập tức trong tâm trí Lawrence là một chàng trai trẻ anh biết rất rõ: Col. Đức Hồng y Chạng vạng chính là danh hiệu mà thế gian dùng để gọi cậu.
Elsa là một trong những người dạy của Col—cô đã dạy cậu thói quen tạ ơn trước bữa ăn từ khi còn nhỏ. Chắc hẳn cô cảm thấy thật lạ lẫm và cảm động khi cậu bé ngày nào giờ đã trưởng thành và làm được những việc lớn lao đến thế.
Lawrence cũng tự hào không kém khi thấy cậu bé mà anh tình cờ nhận nuôi trên hành trình năm nào giờ đã trở thành một nhân vật lừng lẫy. Thậm chí anh còn thấy hơi ghen tị một chút.
Khi anh cầm lấy cuốn sách, cảm nhận những luồng cảm xúc đan xen, Holo ghé sát mặt vào cuốn sách và hít hà.
“Gì thế? Chẳng lẽ không phải thư của chúng sao?”.
“Không. Tôi có nhờ các thương nhân đi qua để mắt đến tung tích của họ, nhưng… tôi nghe đủ loại chuyện, nào là đang ở thị trấn này hay thị trấn kia, hay đang đối đầu với những giáo sĩ biến chất ở vùng khác, hoặc là—không, họ đang tranh luận với các linh mục trên núi! Họ đã trở thành một kiểu huyền thoại rồi; ai nấy đều thêu dệt nên câu chuyện của riêng mình. Trở nên nổi tiếng thế này đúng là cũng có cái lợi cái hại.”
Col đã rời làng suối nước nóng Nyohhira để theo đuổi giấc mơ trở thành người của Giáo hội.
Chẳng mất bao lâu để cậu dấn thân vào một cuộc phiêu lưu tạo nên những làn sóng khắp thế giới, và Lawrence vẫn luôn lo lắng không biết cậu đang ở đâu và làm gì vào lúc này.
“Không có tin tức là tin tốt rồi,” Holo tuyên bố. “Và việc cầm thứ này trên tay nghĩa là nó lại đang tự nhốt mình trong phòng, nhai hành tây để xua tan cơn buồn ngủ thôi.”
Cô cầm lấy cuốn sách nhỏ, lắc mạnh khiến các trang giấy vỗ phành phạch.
“Anh không tưởng tượng nổi cảnh cái con nhỏ ngốc đó ngồi cạnh nó, mặt hiện rõ vẻ chán chường sao?”.
Khi một nụ cười tinh quái thoáng hiện trên gương mặt Holo, Lawrence mím môi.
Chứng kiến cảnh đó, Elsa mỉm cười nhận xét: “Vài người gọi cô bé là Thánh nữ Myuri đó. Luôn mỉm cười, nhân từ như ánh mặt trời vậy.”
Nghe thấy thế, Lawrence không biết nên cười hay thở dài.
Lý do lớn nhất khiến anh muốn biết tung tích của họ không chỉ vì Col như con trai anh, mà hơn thế nữa, con gái duy nhất của anh, Myuri, đã bám theo cậu khi cậu rời đi.
Thư từ thỉnh thoảng vẫn gửi về sau khi họ đi, nhưng rồi thưa dần và giờ thì bặt vô âm tín. Nỗi lo lắng chuyện gì đó đã xảy ra với chúng cứ thế lớn dần trong anh.
Đầu tiên là nỗi sợ rắc rối ập đến đâu đó trên hành trình của chúng.
Rồi còn chuyện Col và Myuri tuy không cùng huyết thống nhưng vẫn trên danh nghĩa là anh em. Lawrence thường tự hỏi liệu có gì đó đã thay đổi trong mối quan hệ của chúng hay không.
“Cái con nhỏ ngốc đó chẳng bao giờ biết bỏ cuộc cả.”
“Tôi có ba đứa con trai, nhưng nếu anh nói một trong số chúng sẽ đi sống với vợ ở một thành phố xa xôi, tôi chắc chắn sẽ thấy buồn lắm.”
“Đúng vậy. Dù người ta có thể dễ dàng ghé thăm hoặc nhờ nó gửi về những món đặc sản ngon lành ở nơi ở mới.”
“Cũng đúng.”
Quan điểm giữa một Elsa nghiêm túc, chân thành và một Holo già dặn, bộc trực thường xung đột, nhưng ở những chủ đề này họ lại khá tâm đầu ý hợp.
“Thôi nào, chồng yêu. Tỉnh táo lại đi. Chúng ta có việc phải làm—cụ thể là chuẩn bị cho lễ hội kết thúc phiên chợ đấy.”
Holo vỗ mạnh vào lưng Lawrence bằng cuốn sách nhỏ.
“Gì cơ? Em chỉ muốn đi uống rượu thôi.”
“Đồ ngốc. Không ai trong trấn này uống lại em đâu. Trách nhiệm chọn loại rượu nào sẽ được phục vụ trong lễ hội hiển nhiên thuộc về em rồi.”
Ngay cả Elsa, người thường sẽ chêm vào vài lời về việc tiết chế trong những lúc thế này, cũng nín nhịn không nói gì; suy cho cùng thì lần uống rượu này là một công việc thực sự.
“Năm nào chúng tôi cũng tranh cãi xem nên chọn kho lúa nào, nên có cô Holo chọn giúp năm nay sẽ là một sự hỗ trợ lớn.”
“Thấy chưa?”
Holo tự hào hếch cằm, cả Lawrence và Elsa đều thở dài.
“Đây không phải loại rượu vang thông thường đâu. Là rượu đại mạch chưng cất đó. Đừng có uống quá nhiều nhé.”
“Đồ ngốc. Có bao giờ em bảo anh là em uống quá chén chưa?”.
Việc cô có thể tuyên bố dõng dạc như thế ngay trong nhà thờ có nghĩa là chẳng lời quở trách nào từ Lawrence hay Elsa lọt được vào tai cô.
“Em tự hỏi món nhắm nào sẽ hợp đây? Có lẽ là thịt khô—được hun khói nồng đến mức khiến người ta sặc sụa… Hay là kẹo mật ong? Em thấy món đó khá là khó cưỡng đấy.”
Lawrence có thể biết cô đang hưng phấn thế nào khi nhìn chiếc đuôi của cô vẫy liên hồi dưới lớp quần áo.
“Anh ơi?”
“Anh biết rồi, anh biết rồi. Hẹn gặp lại cô sau nhé, cô Elsa.”
“Vâng, bảo trọng.”
Một nụ cười hơi ngán ngẩm nhưng cũng đầy vẻ ghen tị hiện lên trên mặt Elsa khi thấy Holo lôi Lawrence đi.
Vài giờ sau, Lawrence cõng một Holo đang say sưa đầy sảng khoái trên lưng trở về quán trọ.
~~~
Khi các phiên chợ xuân và thu ở Salonia mở cửa, thương nhân từ khắp nơi đổ về—không còn chỉ từ vùng phụ cận.
Sự kết thúc của phiên chợ mùa thu luôn được đánh dấu bằng một lễ hội tạ ơn mùa màng và cầu nguyện cho một năm tới tốt tươi.
Hồi còn rong ruổi đi buôn, tất nhiên Lawrence đã tham dự đủ loại lễ hội địa phương, nhưng anh luôn tự mâu thuẫn với bản thân khi tận dụng bầu không khí lễ hội nồng nhiệt để bán hàng với giá cắt cổ, vì thế anh chưa bao giờ thực sự tận hưởng được chúng. Trong thực tế, anh thường cúi đầu lầm lũi, nỗ lực bước nhanh hơn các đối thủ một bước để đến điểm đích kế tiếp trước họ.
Những chuyến đi vội vã của anh chỉ chậm lại kể từ khi bắt đầu đi cùng Holo.
Chính khi đó anh mới bắt đầu trân trọng cảnh sắc, và lần đầu tiên thực sự nhận ra mùi vị của không khí là như thế nào.
Việc chuẩn bị cho lễ hội cũng vậy; anh chỉ hiểu được đây là khoảng thời gian sôi động nhất đối với dân thị trấn khi Holo nắm lấy tay anh.
“Chỗ này ổn này; họ có đủ loại ngũ cốc ở đây.”
Holo, cơn say cuối cùng cũng tan biến khi đêm xuống, lên tiếng khi đang ngồi tại một trong những chiếc bàn ngoài trời của quán trọ, nhâm nhi một cốc rượu bất chấp các hoạt động của ngày hôm trước.
Nói là vậy, nhưng cô chỉ chậm rãi nhấp từng ngụm như thể đó là rượu táo pha loãng, nên có lẽ cô cũng không hoàn toàn phớt lờ những bài học rút ra được ở đây.
“Việc buôn bán của anh diễn ra tốt đẹp lắm. Anh đoán dân thị trấn cảm thấy nhẹ nhõm hơn hẳn khi không còn gánh nặng nợ nần đó nữa.”
“Mm. Và anh đã bán hết đống đồ hôi hám vớ vẩn ở sau xe chưa?”.
Lawrence phải tận dụng danh tiếng của mình bằng cách nào đó sau khi đã có chút tiếng tăm trong trấn. Anh đã bán được một nửa núi bột lưu huỳnh mang theo từ lúc rời Nyohhira. Anh thậm chí còn nghĩ mình có thể bán thêm một chút nữa, khi thấy dân thị trấn, trong niềm vui hết nợ, đang bàn tán về việc làm suối nước nóng tạm thời bằng cách đào hố và đổ nước nóng vào.
“Vậy thì em không có gì phàn nàn nữa,” Holo nói, thoải mái nhắm mắt lại, để cơn gió đêm mát lành mơn man mái tóc mái của mình.
Vẫn còn một lúc nữa mặt trời mới lặn hẳn, nhưng thị trấn không đi ngủ vào buổi tối khi lễ hội đã cận kề. Lawrence ngồi đó, thầm hy vọng rằng Holo, người đã dành phần lớn thời gian trong ngày để chợp mắt, sẽ không uống quá nhiều hôm nay, đúng lúc chủ quán trọ mang thức ăn và canh nóng ra cho họ.
“À, phải rồi, không gì tuyệt hơn món này sau khi uống hơi quá chén,” cô nói, háo hức xì xụp nấm và rau củ được ninh với nước dùng. “Nhưng em vẫn thấy tiếc một điều.”
“Hửm?”
Holo đặt bát canh xuống, thay vào đó cầm một con cá mòi nướng nhỏ thon dài và cắn vào đầu nó.
“Ít ra đây không phải là cá trích. Em nghe nói thị trấn này thường có đủ loại cá sông phong phú để lựa chọn.”
Cá trích nhiều vô kể ở đại dương đến nỗi người ta nói rằng một người có thể đâm kiếm xuống nước và rút lên một thanh kiếm xiên đầy cá; người ta luôn có thể tìm thấy nó trên bàn ăn của các gia đình ở sâu trong đất liền. Không chỉ vậy, nó còn rẻ—và thế là nó trở thành món ăn chủ đạo trong mùa đông, và ngay cả những người không kén ăn như Holo thường cũng thấy chán ghét nó.
Ngược lại, cá từ những dòng sông tối tăm đến mức khó thấy gì thường ở rất xa biển và muối cần thiết để bảo quản, vì thế chúng không bao giờ đi xa được. Những loại cá sông ngon của địa phương chỉ có thể được thưởng thức tại chính những nơi đó.
“Anh đã xem qua con sông cạnh trấn, nhưng có vẻ không có nhiều cá trong đó đâu. Và em biết người ta nói gì rồi đấy—hai thứ sẽ luôn tìm thấy em dù ở cách xa bờ biển là mặt trăng và cá trích. Mà đây là cá mòi mà.”
Lawrence cắn một miếng cá, và một vị đắng dễ chịu tràn ngập trong miệng. Anh thích nó được nướng kỹ hơn một chút nữa, nhưng Holo khẽ nhún vai.
“Nhìn kìa, anh thấy ngọn núi mờ ảo đằng xa kia không? Từ phòng trọ của chúng ta ấy?”
“Hửm? Ồ, thấy rồi.”
Khi Lawrence định với tay lấy con cá mòi thứ ba vì muốn có thêm vị đắng đó trong miệng, Holo gạt tay anh ra.
“Đó không phải hướng chúng ta vào trấn, và em nghe nói có một cái ao huyền thoại ẩn mình ở đó.”
“Huyền thoại?” Lawrence lặp lại, không mấy bận tâm khi nói; anh nhấc đĩa cá mòi đã hết lên vẫy vẫy chủ quán.
“Họ nói loại cá hồi chấm ngon nhất sống ở đó, nhưng suốt mấy năm rồi thì năm nay lại không cửa hàng nào có lấy một con.”
“Hả.”
Với tư cách là chủ nhà tắm, Lawrence bắt đầu nghĩ đến một món ăn anh có thể phục vụ với cá hồi chấm—nó sẽ rất tuyệt nếu được bọc trong một chiếc lá lớn và chiên với nấm cùng thật nhiều bơ.
“Hóa ra họ nuôi chúng đặc biệt trong cái ao đó, nhưng rồi một căn bệnh đã ập đến.”
“Nuôi cá trong ao sao? Nó không giống như việc quây một đoạn sông đâu; khó hơn nhiều đấy. Họ nói mọi người ở Nyohhira đã thử vài lần rồi, nhưng chưa bao giờ thành công cả”.
“Và đó là lý do vì sao tất cả những gì chúng ta ăn chỉ là cá trích và cá mòi.”
Dù than phiền, Holo vẫn ngấu nghiến những con cá mòi mà Lawrence đã lấy cho chính mình. Một con cá hồi chấm béo ngậy, tất nhiên, sẽ rất hợp với một vại bia. Và với tư cách là một cựu thương nhân, Lawrence cũng có vài suy nghĩ về vấn đề này.
“Chắc là tệ lắm. Họ hẳn đã nuôi chúng đặc biệt cho mùa lễ hội.”
Một ao cá trên núi chắc chắn là nguồn thu nhập quý giá đối với người dân địa phương. Họ có thể ngần ngại khi thả thêm cá vào ao sau khi dịch bệnh đã quét sạch mẻ trước, và anh có thể dễ dàng đoán trước những khó khăn của họ sẽ còn tiếp diễn.
Khi những suy nghĩ đó lướt qua tâm trí anh, đôi mắt Holo chợt liếc đi nơi khác, như thể ánh nhìn của cô bị thu hút bởi thứ gì đó. Lawrence dõi theo mắt cô và thấy Elsa, đang khẽ vẫy tay với họ.
“Cô ta muốn gì đây?”
Câu hỏi của Holo có chút gai góc vì cô biết một khi Elsa gia nhập bàn ăn, những lời quở trách và giáo điều của người phụ nữ này sẽ đi cùng. Có lẽ Elsa đã đánh hơi thấy chuyện Holo cuối cùng đã gục vì say xỉn sau khi đi chọn rượu cho lễ hội.
“Với tư cách là một tôi tớ mộ đạo của Chúa, nhiệm vụ của tôi là luôn phải thuyết giảng về sự tiết chế với cô,” Elsa bắt đầu, giọng nói đượm vẻ ngán ngẩm, rồi cô quay sang Lawrence. “Nhưng việc của tôi hôm nay là với anh Lawrence. Tôi có một yêu cầu muốn nhờ anh”.
“Nhờ tôi sao?” anh hỏi.
Đúng lúc đó, chủ quán mang thêm cá mòi nướng ra; Holo không chỉ đưa tay lấy những con cá mòi vừa nướng xong, mà còn nắm lấy gáy của Lawrence.
“Đống này là của em. Em sẽ cần chút vật thế chấp vì anh sắp sửa phải làm việc quá sức rồi đấy.”
Điều tương tự cũng đã được viết trong sử biên niên, nên Lawrence sẽ không phản đối. Anh khẽ thu mình lại, giống như những con cá mòi đang bị Holo chặt đầu một cách không thương tiếc bằng răng.
“Cô cũng sẽ cần cung cấp chút vật thế chấp đấy.” Elsa quay sang Holo.
“Hửm?”
“Cô không muốn ăn chút cá hồi chấm ngon lành sao?”
Vừa nhắc đến là có ngay.
Lawrence và Holo trao nhau ánh nhìn trước khi lắng nghe những gì Elsa nói.
~~~
Ngọn núi mà Holo thấy từ cửa sổ quán trọ, theo báo cáo, thuộc về lãnh thổ gọi là Giáo phận Rahden.
Nó không rộng lớn bằng Giáo phận Vallan, nơi cả hai đã cùng Elsa hóa giải bí ẩn về ngọn núi nguyền rủa; tất cả những gì ở đó chỉ là một ngôi làng nhỏ. Ngôi làng hẻo lánh trên núi này có điểm khác biệt trong vùng là họ điều hành một trang trại nuôi cá sông. Loại cá hồi chấm béo tốt của họ đặc biệt được ưa chuộng, và chúng được coi là một món đặc sản ở Salonia, vì tất cả những gì dân thị trấn có thể đánh bắt từ con sông bùn lầy gần đó chỉ là cá chép. Dịch bệnh đã bủa vây trang trại trong vài năm nay, và năm nay đặc biệt tệ hại—mọi con cá đều chết sạch. Lựa chọn duy nhất của họ là chờ cho đến khi nước ao được phục hồi, và sẽ còn rất lâu nữa cá hồi chấm mới lại xuất hiện trên bàn ăn ở Salonia.
Khi Elsa kết thúc lời giải thích, Lawrence đoán rằng cô sẽ nhờ họ sử dụng tài năng buôn bán của mình để cứu họ khỏi tình cảnh khó khăn. Nhưng với ngành công nghiệp chính đã mất, sẽ rất khó để tìm thứ gì đó thay thế để mang lại tiền bạc và thức ăn cho họ. Lawrence có thể lập nên một đế chế thương mại nếu anh có thể giải quyết chuyện như thế trong chớp mắt. Khi những suy nghĩ đó lướt qua, anh nhận thấy yêu cầu của Elsa có phần tương tự như những gì anh mong đợi, nhưng đồng thời lại hoàn toàn khác biệt.
“Cô muốn tôi tìm cách giúp họ có được một khoản vay sao?”
Dân làng hẳn đang gặp khó khăn do mất đi nguồn thu chính, nên một khoản vay là hợp lý.
“Có cần tôi nói chuyện với một công ty nào đó không? Tôi không chắc mình có thể…”
Khoản vay đồng nghĩa với mối quan hệ lâu dài giữa người cho vay và người đi vay. Bất kỳ ai có đầu óc bình thường cũng sẽ ngần ngại khi đưa tiền cho một lữ khách bỗng dưng xuất hiện một ngày với những lý do sơ sài. Và cách đây không lâu, Salonia đã bị cuốn vào một mạng lưới nợ nần chằng chịt đến mức thị trấn gần như bị tê liệt.
Khi Lawrence cân nhắc về việc anh vừa mới tháo gỡ mạng lưới đó xong, Elsa lắc đầu.
“Không phải vậy. Các công ty đã từ chối ngôi làng rồi, và lựa chọn duy nhất của họ là Giáo hội.”
“…”
Anh không đáp lại ngay vì những gì Elsa nói nghe thật kỳ quặc. Ngay cả khi Elsa, theo đúng nghĩa đen, chỉ đang ở một vị trí tạm thời, cô vẫn giữ chức vụ linh mục. Và không chỉ vậy, cô đã đóng góp phần mình vào việc giải quyết sự hỗn loạn đã bao trùm thị trấn, điều đó có nghĩa là cô có nhiều sức ảnh hưởng hơn chức vụ của mình.
Đó là ý Chúa rằng cô phải giúp đỡ những người gặp khó khăn, nên nếu cô bày tỏ mong muốn giúp đỡ những người đó, cô có thể thuyết phục Nhà thờ một cách dễ dàng.
“Hay cô muốn tôi điều tra xem liệu họ có khả năng trả nợ hay không?”
Elsa luôn đứng với tấm lưng thẳng tắp, từng lọn tóc trong búi tóc luôn ngay ngắn ngay cả sau một ngày dài làm việc.
Khác với thường lệ, người phụ nữ này dường như hơi rụt vai lại khi nói: “Không, đó không phải vấn đề. Trang trại đã hoạt động kém hiệu quả trong nhiều năm qua, nhưng vì dân làng rất chăm chỉ, nên giờ họ đã có cuộc sống ổn định nhờ săn hươu và làm dây da. Thị trấn này là một trung tâm thương mại—bao nhiêu dây buộc da để thắt miệng túi cũng không bao giờ là đủ. Đó là lý do tôi nghi ngờ liệu họ có thực sự cần một khoản vay hay không. Ý tôi muốn hỏi là…” Elsa quay sang Lawrence, vẻ mặt cứng cỏi thường lệ giờ đượm một chút lo âu. “Chúng tôi muốn anh tìm cách để Giáo hội có thể cho họ vay tiền.”
Sự bất an trên mặt Elsa khiến cô trông như một đứa trẻ đang cố nói một thứ ngôn ngữ xa lạ. Thực sự có vẻ như cô không mấy tự tin rằng những gì mình đang cố nói là có ý nghĩa.
“Ờm, tôi yêu cầu anh tìm ra một cách—”
“Không, tôi hiểu rồi. Sẽ ổn thôi,” Lawrence đáp.
Có vẻ như Elsa muốn nói thêm gì đó, nhưng cô ngoan ngoãn ngậm miệng lại.
Tuy nhiên, dù Lawrence hiểu từng từ từng chữ cô nói, anh lại không hoàn toàn hiểu được ý nghĩa tổng thể của chúng. Sau một hồi im lặng, Holo lên tiếng.
“Dân làng muốn tiền, đúng không?” “Và người của Giáo hội các cô muốn cho họ vay tiền, đúng không? Tôi thấy chuyện đó khá là công bằng đấy.”
Vẻ mặt cô cho thấy cô đã quá chán ngấy với những biến chứng không thể tránh khỏi sắp tới. Cô biết có một cái bẫy ở đây.
Elsa đặt tay lên ngực và hít sâu vài hơi, cẩn thận chọn lời trước khi nói.
“Cá nhân tôi đồng cảm với lý do dân làng hỏi vay tiền. Tôi tin rằng Giáo hội nên giúp họ. Tuy nhiên…” Cô quay sang Lawrence với ánh mắt đầy hối lỗi. “Tuy nhiên, việc Giáo hội cho vay tiền không phải là một điều dễ chấp nhận. Và chúng ta đang ở giữa một cơn bão đang chất vấn tất cả những hành vi xấu xa mà Giáo hội đã phạm phải.”
Cô tỏ vẻ hối lỗi vì cô không hề có ý định chỉ trích Lawrence và Holo về chuyện như vậy.
Holo cố tình ngoảnh mặt đi; đó là vì Col và Myuri đã tạo ra những làn sóng chấn động đáng kể lên Giáo hội, và bụi đã mịt mù khắp thế giới.
Việc tất cả những năm tháng sai trái mà Giáo hội đã phạm phải đang bị đem ra xem xét là một điều tốt, nhưng thật không may, không phải mọi chuyện đều sẽ được giải quyết một cách êm thấm. Giáo hội thật đạo đức giả—bất chấp việc ca ngợi lối sống khổ hạnh, nó đã béo tốt lên từ tất cả những khoản thuế thập phân và tiền quyên góp nhận được trong suốt bao năm qua.
Và vì thế, trong thời gian gần đây, bất cứ điều gì liên quan đến Giáo hội và tiền bạc đều bị soi xét kỹ lưỡng, và bất cứ điều gì có vẻ vô hại ngay từ đầu thường bị nhìn với ánh mắt ngờ vực.
Suy cho cùng, lý do tại sao mọi chuyện lại trở nên như thế này rất có thể là vì Col.
“Chà, nếu đó là điều đúng đắn nên làm, thì việc cô cho họ vay tiền không thành vấn đề chứ? Tôi chắc rằng nó sẽ không đi ngược lại giáo lý của Giáo hội miễn là lãi suất không quá cao.”
Chính những kẻ cho vay nặng lãi mới là người mà Giáo hội thấy có lỗi; Kinh Thánh nói rằng nếu một người mượn một căn phòng để ở qua đêm, món nợ đó phải được trả lại. Các nhà thần học thường giải thích điều này có nghĩa là một cử chỉ cảm ơn là khoản trả nợ được chấp nhận trong mắt Chúa.
“Sự chấp thuận ngầm, nếu có. Nhưng các linh mục ở đây đang do dự—họ nghĩ rằng chúng tôi có thể bị đem ra làm bia đỡ đạn cho một chuyện gì đó.”
Lawrence có thể hiểu được điều đó.
“Họ tin rằng bất kỳ khoản tiền dư thừa nào cho họ vay sẽ bị gặp phải sự nghi ngờ, đặc biệt là khi ngôi làng không đặc biệt gặp rắc rối về tiền bạc.”
“Nếu đó là lý do cô không cho họ vay tiền, vậy cô có lý do nào để thực sự muốn làm vậy không? Nghe cứ như thể những người nuôi cá đó chẳng hề gặp khó khăn vì thiếu tiền vậy,” Holo nói, và Elsa quay sang nhìn cô.
Cô sau đó hướng ánh nhìn về phía trước—nhà thờ đã hiện ra trong tầm mắt.
“Hay đúng hơn là, các người có thể lắng nghe tình hình của chúng tôi với một đôi tai mới mẻ và đưa ra phán xét của mình không?”
Cô muốn nói rằng những lời thỉnh cầu của dân làng được sắp xếp và dàn dựng như một màn kể chuyện.
Và Elsa là một người bạn cũ biết chính xác Holo là ai.
“Đôi tai của tôi có cái giá là một vại bia mát lạnh đấy.”
Holo có thể biết khi nào người ta đang nói dối.
Elsa thở hắt ra một tiếng khi cô tiến về phía nhà thờ.
~~~
Bầu trời đã chuyển sang màu tím khi họ đến nhà thờ Salonia; những chiếc đèn lồng hiện đã được thắp sáng khắp thị trấn. Buổi lễ tối đã kết thúc, và trong khi Lawrence ban đầu nghĩ rằng nhà thờ có thể đã hoàn toàn đóng cửa vào lúc này, họ lại thấy các cánh cửa mở rộng và vài người phụ nữ đang lảng vảng ở lối vào.
“Họ kia rồi!”
Ngay khoảnh khắc một người phụ nữ đẫy đà nhận ra bộ ba, bà ta chỉ tay và thốt lên. Một đám đông sau đó đổ ra từ bên trong nhà thờ. Họ đều trông rất mộc mạc trong cách ăn mặc; khó có khả năng họ đến từ thị trấn.
Lawrence bàng hoàng, còn Holo nhìn Elsa với vẻ nghi ngờ. Elsa hắng giọng và nói lớn.
“Tôi đã mang vị đại thương nhân đã cứu Salonia đến đây! Tránh đường, tránh đường nào!”
“Ồ, vị đại thương nhân!”
“Chính là anh ta!”
“Cảm tạ trời đất!”
Elsa theo nghĩa đen đã rẽ đám đông, những người đã tụ tập như thể một vị thánh vừa xuất hiện.
Lawrence cảm thấy thích thú, nhớ lại cái thời anh thường lao vào những cuộc ẩu đả để mua hàng ở chợ, nhưng một Holo nhạy cảm lại bị sốc và hơi thu mình lại vì sợ hãi.
Lawrence nắm lấy vai cô để trấn an và họ đi theo Elsa vào nhà thờ.
Bên trong, tại gian giữa nơi đặt bàn thờ, đàn ông ngồi tùy ý khắp các hàng ghế. Và thực sự là theo bất kỳ cách nào họ muốn—vài người đang cân lúa mì, và vài người thậm chí đang mài rìu của họ. Vài người cởi trần, đang vá quần áo, và một người thậm chí còn dắt theo vài con dê.
“Này! Tôi đã bảo rồi, không dắt dê vào trong! Đi buộc chúng ra đằng sau rồi quay lại đây sau đi!”
Trước lời quở trách của Elsa, một người đàn ông trông giống hệt một con dê dắt ba con dê ra khỏi nhà thờ. Khi cô đang đứng thở dài, một linh mục xuất hiện từ hành lang dẫn vào các phòng phía sau.
“Elsa, đằng này.”
Ông ta ra hiệu cho họ, và Lawrence đi cùng Elsa đến đó. Đi theo sau họ là đám đông của tất cả những người đã lảng vảng bên ngoài nhà thờ và bên trong gian giữa.
Khi họ đứng trước một nơi có vẻ là một hội trường đa năng, Elsa quay lại và nói: “Tất cả đợi ở đây.”
Mệnh lệnh đó khiến cả đám đông—trông không khác gì một đàn vịt—dừng lại, nhưng họ đều bắt đầu lầm bầm với nhau. Sau đó, vị giám mục mảnh khảnh, lịch thiệp mở cửa, để Lawrence, Holo và Elsa vào trong; Elsa đóng cửa lại sau lưng họ, ngăn cách đám đông phía ngoài.
“Chuyện gì đang xảy ra thế?” Holo hỏi, giống như cô vừa gặp ác mộng trong vòng tay Lawrence, và một trong những người ngồi tại chiếc bàn dài đứng dậy.
“Con hy vọng người của con không làm phiền các vị.”
Một ông lão với mái tóc xám và vẻ mặt nghiêm nghị lên tiếng. Lawrence đoán rằng ông ta hẳn là trưởng làng thuộc Giáo phận Rahden.
“Không sao đâu, thưa trưởng làng. Mọi người đều đang cư xử đúng mực,” vị giám mục nói một cách thản nhiên; ông ta chắc chắn nghe giống như người của một thị trấn đang hưng thịnh nhờ thương mại.
“Con cảm ơn đức cha đã tiếp nhận dân làng. Ban đầu con không định đi cùng tất cả những người này đâu…”
“Không vấn đề gì. Bất kỳ con chiên nào của Chúa cũng được chào đón để cảm thấy như ở nhà tại đây.”
Vị giám mục nói những lời đãi bôi, nhưng Elsa mới là người thực sự phải dọn dẹp nhà nguyện. Mặt cô nhăn lại như thể đang chống chọi với một cơn đau đầu; hẳn cô đã nhớ đến lũ dê trong gian giữa.
“Và đây là ai vậy?”
“Hai vị này là những thương nhân đã cứu Salonia khỏi tình cảnh ngặt nghèo mà chúng tôi đã đề cập trước đó.”
Bỗng chốc trở thành chủ đề của cuộc trò chuyện, Lawrence vội vàng trưng ra nụ cười thương nhân đẹp nhất của mình.
“À, tôi hiểu rồi. Thật là vinh dự.” Ông lão cúi đầu lịch sự và tự giới thiệu: “Tên tôi là Sulto. Tôi là trưởng làng của ngôi làng nhỏ trong Giáo phận Rahden.”
“Kraft Lawrence. Đây là vợ tôi, Holo.”
Khi Lawrence lần lượt tự giới thiệu, một nụ cười nhẹ nhõm hiện lên trên khuôn mặt Sulto, giống như ông vừa gặp được một người quen cùng quê ở xứ người.
“Tôi đã nghe những câu chuyện về anh, ngài Lawrence. Không lời nào diễn tả hết lòng cảm kích của tôi khi một người như anh đã đề nghị giúp đỡ tôi. Cảm ơn anh rất nhiều.”
Lawrence không chắc ông lão đã nghe được những câu chuyện thêu dệt gì về mình, nên anh chỉ nở một nụ cười mơ hồ và gật đầu.
“Vậy thì, tôi có thể giúp gì cho ngài?”
Đúng như anh dự đoán, người đàn ông tên Sulto là trưởng làng của ngôi làng nổi tiếng với trại nuôi cá hồi chấm.
Theo những gì Elsa đã kể cho họ trước đó, trong khi bản thân nhà thờ muốn cho họ vay tiền, nhưng tình hình hiện tại khiến việc cho vay tiền trở thành một hành động khó khăn đối với nhà thờ. Do đó, họ muốn sự thông thái của một thương nhân để tìm ra một cách chấp nhận được để cung cấp một khoản vay mà không vẻ gì là đáng ngờ. Có lý do chính đáng để dân làng đã kéo đến nhà thờ đông đảo như vậy.
Nhưng Lawrence ban đầu nghĩ rằng ngôi làng muốn vay tiền sau khi ngành nuôi cá thất bại vì họ không còn cách nào để kiếm sống, nhưng có vẻ không phải vậy. Những người đàn ông lảng vảng trong gian giữa cầm theo thức ăn có vẻ như được mua từ thị trấn và sở hữu những công cụ có vẻ có chất lượng tốt, bất chấp cách ăn mặc xuề xòa của họ.
Những dân làng này, những người rõ ràng có cuộc sống thoải mái, muốn làm gì với số tiền vay đó, và tại sao nhà thờ lại cố gắng hỗ trợ họ?
Sulto điều chỉnh tư thế dưới cái nhìn của Lawrence và nói: “Chúng tôi muốn nhà thờ cho chúng tôi vay tiền để lãnh chúa Rahden có thể trở thành giám mục.”
Từ đầu tiên nảy ra trong đầu Lawrence là tội buôn bán thánh chức. Chính vị giám mục sau đó đã xen vào.
“Cách diễn đạt đó sẽ gây hiểu lầm đấy, thưa trưởng làng.” Sau đó ông quay sang Lawrence và nở nụ cười mang phong vị thương nhân của riêng mình. “Làm ơn, mời ngồi. Có một tình huống nhạy cảm đang diễn ra ở Giáo phận Rahden.”
Chuyện này nghe có vẻ mờ ám đối với Lawrence, vì thế anh thấy mình liếc nhìn về phía Elsa. Cô là một nữ linh mục kiểu mẫu: trung thực và không khoan nhượng với bất kỳ hành vi sai trái nào. Cái nhìn của anh mang đầy vẻ thẩm vấn—việc gây quỹ để kiếm cho mình một chức giáo sĩ cấp cao chính là điều sẽ thu hút tất cả những kiểu sự chú ý tiêu cực trong thời đại này.
Lawrence thực hiện điều này không phải vì anh là một người đặc biệt khó tính, mà vì anh không thích ý tưởng bị bắt phải đi qua một cây cầu mà anh không thể kiểm chứng được độ an toàn của nó. Và đáng ngạc nhiên là Elsa đã quay lại nhìn thẳng vào mắt Lawrence.
“Cứ nghe những gì ông ấy nói đã.”
Dù đó là gì đi nữa, xem chừng nó hoàn toàn hợp lệ dưới góc độ đạo đức của cô ấy.
Ngay cả Holo, người cũng đang nhìn với vẻ đầy nghi ngờ, cũng biết quá rõ tính cách của Elsa. Cô chớp mắt, không ngờ tới phản ứng đó.
"...Được rồi," Lawrence gật đầu nói. "Kể tôi nghe đi."
Lawrence và Holo ngồi đối diện Trưởng làng Sulto.
~~~
"Thị trấn của chúng tôi nằm trong Giáo phận Rahden, nhưng đó chỉ là biệt danh của vùng này," Sulto giải thích. "Ngài Rahden, người đã khai phá mảnh đất nhỏ bé, nghèo nàn giữa núi rừng này, là một người thực hành giáo lý của Chúa vô cùng ngay thẳng. Ngài ấy đã dẫn dắt chúng tôi—như một người cha của dân làng vậy. Chúng tôi gọi vùng đất của mình là Giáo phận Rahden để vinh danh những công lao to lớn của ngài ấy."
Nghe khá giống mấy ông chủ quán rượu râu ria xồm xoàm thỉnh thoảng vẫn được người ta gọi là lãnh chúa. Lawrence nhớ lại trong những chuyến hành thương của mình cũng có vài nơi có cách gọi tên tương tự.
"Ngài Rahden đã được tấn phong chính thức từ Giáo hội chưa?"
Người trả lời câu hỏi của Lawrence là vị giám mục.
"Cho phép tôi được nói thay cho các ghi chép ở Salonia." Vị giám mục đằng hắng, bắt đầu câu nói bằng một khúc dạo đầu kỳ lạ. "Tôi đoán chừng đã bốn mươi năm trước—mảnh đất này được hiến tặng cho ngài ấy bởi gia tộc quý tộc từng sở hữu nó. Ngài ấy từng làm đại diện cho một nhà thờ được cho là từng tọa lạc ở khu vực đó. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa ngài ấy thuộc hàng giáo sĩ đã được tấn phong."
Lawrence cố nhịn nụ cười suýt hiện lên trên mặt khi nghe vị giám mục nói một nhà thờ được cho là từng tọa lạc ở khu vực đó. Dịch ra thì có nghĩa là có khả năng Rahden đã nhận được đất hiến tặng trong khi đóng giả làm người của Giáo hội.
"Nhưng hành động của ngài Rahden quả thực đã cứu sống rất nhiều người," vị giám mục nói, cứ như thể đọc được suy nghĩ của Lawrence. "Bốn mươi năm trước, Salonia là tiền tuyến trong cuộc chiến chống lại dân ngoại đạo. Biên niên sử của chúng tôi ghi lại rằng đó là một thời kỳ hỗn loạn kinh hoàng. Chính lúc đó, ngài Rahden xuất hiện, xây một hồ cá trên ngọn núi khắc nghiệt, nuôi cá và thu nhận những người bị mất nhà cửa vì chiến tranh. Ghi chép cho thấy cá từ Giáo phận Rahden đã xua tan nạn đói khi người ta không thể đánh bắt cá từ những con sông đầy rẫy xác chết nữa."
"Ra vậy."
Lawrence đã hiểu vì sao Elsa muốn giúp đỡ họ.
Sulto sau đó lên tiếng, giọng đầy vẻ nôn nóng.
"Nhà của chúng tôi đã bị chiến tranh thiêu rụi. Lúc đó tôi còn trẻ—mới cưới vợ—nên tôi đưa vợ và đứa con mới lọt lòng hướng về ngôi làng của ngài Rahden, bám víu vào những tin đồn về sự cứu rỗi. Khi cuối cùng cũng đến được làng, chúng tôi đã kiệt sức, khói vẫn bốc lên từ bộ quần áo cháy sém, và ngài Rahden chào đón chúng tôi bằng cách ném cho chúng tôi một tấm lưới mà ngài ấy đang tự tay đan. Tôi nhớ chuyện đó như mới ngày hôm qua. Ngài ấy đúng là người được Chúa phái đến," Sulto nói, gần như đang cầu nguyện, tay nắm chặt biểu tượng Giáo hội đeo trên cổ.
Nhìn vị trưởng làng, Lawrence từ từ hít vào rồi nín thở. Dân làng đã đổ xô đến nhà thờ vì tất cả họ đều có chung một quá khứ, và tất cả đều được Rahden cứu mạng. Không chỉ vậy, người đàn ông ấy không phải là một giáo sĩ chính thức dù đã làm biết bao việc thiện, và giờ Lawrence đã hiểu tại sao điều đó lại khiến dân làng cảm thấy không cam tâm. Họ không thể chịu đựng được cảnh Rahden không nhận được những vinh dự xứng đáng, nên họ mới đến Salonia.
Nhưng việc nhận tấn phong thường đi kèm với hối lộ, nên khó mà tưởng tượng được số tiền vay mượn nhằm mục đích để Rahden trở thành giám mục lại được dùng cho việc gì khác ngoài chuyện đó.
Tò mò muốn biết chuyện này sẽ được giải quyết ra sao, Lawrence liếc nhìn vị giám mục, và ông cũng gật đầu đầy thấu hiểu.
"Về việc phong chức giám mục cho ngài ấy, tông tòa của Đức Giáo hoàng đã trực tiếp nghe nói về đức tin của ngài Rahden. Nên những lo ngại của anh về việc... hối lộ không phải là vấn đề ở đây."
Lawrence quay sang nhìn Elsa, cô chỉ im lặng gật đầu và chỉ vào chiếc khăn choàng linh mục của mình. Cô đã kết hôn và có con, vậy mà vẫn được phong chức linh mục. Giáo hội đang thiếu hụt nhân sự trầm trọng trong thời kỳ thay đổi này, nên họ sẵn sàng phong chức cho bất kỳ ai họ tìm thấy, đặc biệt là những cá nhân xuất sắc như cô.
Họ để mắt tới Rahden vì có lẽ họ muốn thu nạp một người vốn đã nổi tiếng về đức tin—một người có thể dễ dàng thu phục nhân tâm.
Nếu đúng là vậy, thì có một điều Lawrence không hiểu.
"Vậy thì các người định làm gì với số tiền đó?"
Sulto thở dài. "Chúng tôi được biết rằng nếu ngài Rahden trở thành giám mục, ngài ấy sẽ phải đi xuống phương nam đến tông tòa của Đức Giáo hoàng, và việc đó có thể mất hơn một năm."
Lawrence tự hỏi liệu số tiền đó có được dùng cho chi phí đi lại và sinh hoạt hay không, nhưng anh có cảm giác họ có thể kêu gọi quyên góp trong thị trấn.
"Khi ngài Rahden nghe vậy, ngài ấy bảo sẽ từ chối lời đề nghị. Ngài ấy nói không thể xa làng hơn một năm, rằng ngài ấy sẽ không rời đi cho đến khi trại cá của làng được khôi phục hoàn toàn."
Nghe có vẻ ông ấy là một người rất kiên định với trách nhiệm của mình.
Lawrence định gật đầu thán phục, nhưng anh chững lại. "Ừm... Nhưng tôi nghe nói công việc săn nai và các nghề thủ công liên quan đang tiến triển khá tốt mà."
Chắc chắn họ có thể xoay sở được, ngay cả khi không có trại cá.
Sulto nhìn Lawrence, ánh mắt thoáng nét buồn. "Ngài nghe đúng đấy. Lúc nào cũng là ngài Rahden giúp đỡ chúng tôi, nên chúng tôi đã bắt đầu nghiêm túc tìm kiếm một ngành nghề có thể thay thế trại cá từ rất lâu trước khi có bất kỳ dấu hiệu bệnh tật nào ở bầy cá. Và tạ ơn Chúa, khi Giáo phận Vallan ở phía bên kia ngọn núi bắt đầu phát triển trở lại, rất nhiều nai đã xuất hiện quanh làng. Cuộc sống của chúng tôi hiện giờ được duy trì nhờ thịt nai, da nai và dây da."
Giáo phận Vallan từng được khai thác như một khu mỏ và đã trở nên trơ trọi.
Nhưng hóa thân của sóc Tanya đã làm việc chăm chỉ để trồng lại cây trong rừng và sự sống đã trở lại vùng đất ấy.
Lawrence, một cựu thương nhân từng kết nối những vùng đất xa xôi, cảm thấy rất vui khi biết được mối liên hệ giữa hai nơi này. Anh thầm nhắc mình phải kể cho Tanya nghe chuyện đã xảy ra.
"Đó là lý do chúng tôi tin rằng chính Chúa đã mang cơ hội này đến cho ngài ấy. Điều này sẽ cho phép ngài ấy rời đi và nghỉ ngơi khỏi công việc ở làng một thời gian, và đức tin của ngài ấy đã được công nhận đến mức có thể chính thức trở thành một giám mục. Chúng tôi đã hối thúc ngài ấy nhận lời. Nhưng ngài ấy nói không, rằng ngài ấy không thể xa làng khi tương lai của trại cá vẫn còn mờ mịt. Có lẽ vì chúng tôi còn quá thiếu kinh nghiệm."
"Vậy, đây là khoản vay để giúp phục hồi trại cá sao?"
Sulto không gật đầu xác nhận, cũng không phủ nhận câu nói đó.
"Chúng tôi muốn có đủ tiền để ngài Rahden có thể yên tâm rời làng."
"..."
Vị trưởng làng hẳn nghĩ rằng việc phục hồi trại cá hồi sẽ rất khó khăn. Do bản chất là một hồ nước, tất cả cá bên trong sẽ chết sạch ngay lập tức khi có dấu hiệu dịch bệnh đầu tiên, nên cũng rất có khả năng ông cho rằng tốt nhất là không nên quá phụ thuộc vào nó trong tương lai.
Nhưng Lawrence lại thấu hiểu đến đau lòng động cơ của họ. Anh thậm chí không cần nhìn Holo cũng biết rằng dân làng chỉ đang hành động vì lợi ích tốt nhất của Rahden.
Anh hiểu vì sao Elsa muốn giúp, và cũng hiểu vì sao nhà thờ Salonia lại tìm lý do để ra tay.
Mặt khác, sự thật là anh vẫn chưa biết nhà thờ nên lấy cớ gì để cho họ vay tiền.
Thực ra, tốt nhất là họ có thể vay tiền từ một trong những công ty trong thị trấn, nhưng nếu các công ty đó đánh hơi được rằng khoản vay là để Rahden trở thành giám mục, thì bất cứ ai cũng sẽ đắn đo.
Vấn đề lớn nhất là xu thế hiện tại: sự soi xét đối với Giáo hội ngày càng gay gắt hơn.
Và rất có khả năng số tiền họ yêu cầu đủ lớn để chi phối toàn bộ hoạt động của ngôi làng, nên đó lại là một lý do nữa để chùn bước.
Cho người có quyền lực vay tiền là một nước đi đòi hỏi sự can đảm, bởi vì không có gì đảm bảo họ sẽ trả lại. Những người có liên quan đến Giáo hội lại càng nổi bật; họ có thể dễ dàng khăng khăng rằng đó được coi là một khoản quyên góp, và số tiền đó sẽ không bao giờ được hoàn lại.
Nếu có ai đó có thể giúp, thì đó sẽ là Giáo hội, nhưng nếu hồ sơ cho thấy vị trưởng làng trở thành giám mục ngay sau khi nhận được tiền, thì người ta rất có thể sẽ chỉ trích rằng đó là tiền tham nhũng dùng để hối lộ.
Nhìn bề ngoài, có đủ mọi dấu hiệu cho thấy có điều gì đó mờ ám đang diễn ra.
"Thế nào, anh Lawrence? Tất cả chúng tôi ở nhà thờ Salonia đều muốn giúp đỡ người dân Giáo phận Rahden bằng mọi cách có thể," vị giám mục nói, chuyển sự chú ý sang Lawrence. "Khi tôi hỏi linh mục Elsa xem liệu chúng ta có thể nhờ anh giúp đỡ trong vấn đề này không, cô ấy nói rằng anh sẽ sẵn lòng miễn là không có sự tham nhũng nào."
Và sau đó Elsa phát hiện ra rằng không có sự gian lận nào, nhưng lại có một vấn đề lớn. Đánh giá của cô ấy đã đúng.
"Nói tới tham nhũng, ý đức cha là... không được để lại bất kỳ ghi chép nào về việc nhà thờ trực tiếp cho làng vay tiền, đúng không?"
"Đúng vậy. Nghe thì có vẻ tệ khi anh nói thế, nhưng—"
"Không, tôi hiểu mà. Chỉ vì râu tóc là tự nhiên không có nghĩa là chúng ta không nên siêng năng cạo râu. Sổ sách kế toán cũng vậy thôi."
Elsa trông vô cùng bối rối, như thể không biết mình có nên cười hay không, nhưng vị giám mục thì cười rạng rỡ.
"Vậy trăm sự nhờ anh, anh Lawrence."
"Tất nhiên rồi. Tôi không dám chắc mình sẽ có ngay kế hoạch cho các vị, nhưng tôi sẵn lòng giúp nếu các vị hài lòng với chút kiến thức mà tôi có thể đóng góp. Tôi có cảm giác đây có thể là một vấn đề mà hối phiếu có thể giải quyết được."
"Ồ!"
Một nụ cười rộng mở hiện lên trên khuôn mặt vị giám mục, còn Sulto đứng bật dậy, mắt mở to.
"Ồ, tôi chỉ đang suy nghĩ thành tiếng thôi. Không phải là tôi đã nghĩ ra cách giải quyết chuyện này rồi đâu," Lawrence vội vàng nói để đính chính trước sự vui mừng của họ.
Anh phải đảm bảo không có đường dây trực tiếp nào giữa ngôi làng và nhà thờ trong khi vẫn phải trung thực về đích đến của số tiền.
Có vài chiêu trò mà một thương nhân có thể làm vào lúc thế này, nhưng sẽ mất chút công sức.
"Ồ vâng, tất nhiên rồi. Nhưng anh là Lawrence mà! Người đã dùng phép thuật làm biến mất toàn bộ nợ nần trong thị trấn! Tôi tin rằng anh cũng sẽ nghĩ ra cách gì đó cho chúng tôi."
Lời tâng bốc của vị giám mục khiến Lawrence mỉm cười.
"Chúng ta phải báo ngay cho những dân làng khác. Chắc họ đang sốt ruột lắm rồi," Sulto nói, đi vòng qua bàn để nắm chặt lấy hai tay Lawrence và cúi chào Holo.
Nhưng một cảm giác bất an chợt ập đến với Lawrence khi anh nhìn vị trưởng làng. Dù đã nói sẽ nhận việc này, anh có cảm giác mình đang bỏ sót điều gì đó.
Anh không lo lắng về cách số tiền sẽ được cho vay—không phải vấn đề kỹ thuật nào cả. Mà giống như anh đang bỏ lỡ một điều gì đó cơ bản hơn...
Dù suy nghĩ cứ cuộn trào trong đầu, anh vẫn không thể nghĩ ra điều gì.
Với cảm giác bứt rứt trong lồng ngực, anh nhìn Sulto di chuyển ra khỏi phòng.
Mọi chuyện xảy ra ngay khi ông ấy đặt tay lên cửa.
"Hmm?" Holo lẩm bẩm. Một lúc sau, họ nghe thấy những giọng nói đầy kích động vang lên từ hành lang.
Sulto tò mò áp tai vào cửa rồi ngoái lại nhìn Lawrence và Holo.
Nhưng có vẻ ông đã hiểu chuyện gì đang xảy ra.
"Dân làng nghe có vẻ kích động. Tôi nên ra ngoài làm họ bình tĩnh lại nga—"
Ông chỉ kịp nói đến đó.
"Đợi đã!"
"Xin hãy đợi đã!"
Họ nghe thấy tiếng la hét từ hành lang.
"Xin hãy đợi đã, ngài Rahden!"
Mắt Lawrence mở to ngay khi cánh cửa bật tung.
"Ngài Rahden?!"
Sulto là người đầu tiên lên tiếng, và chính lúc đó Lawrence nhận ra điều mình đã bỏ sót. Anh đã tìm hiểu về cách ngôi làng ở Giáo phận Rahden hình thành, tình hình hiện tại của nó, động cơ của Sulto và các dân làng khác, cũng như tình cảm nồng nhiệt của họ dành cho Rahden.
Nhưng có một điều chưa từng được nhắc đến.
Đó là bản thân Rahden nghĩ gì.
"Sulto! Tại sao ông lại bỏ tôi lại trong làng?!"
Giọng ông ta ồm ồm như một con gấu núi; ông chẳng phải là một ẩn sĩ già nua dành cả ngày để trầm ngâm và cầu nguyện. Dù trang phục trông giống áo tu sĩ, nhưng đầu ông cạo trọc, và những nếp nhăn sâu đến mức tưởng chừng như được khắc vào da; ông to con đến mức trông như một cái cây cổ thụ mọc chân và bắt đầu bước đi. Bàn tay dày cộp của ông, kiểu bàn tay chỉ có ở những người lao động cực nhọc nhiều năm trời, là minh chứng cho việc ông đã làm việc không mệt mỏi ra sao.
Rahden trông ít giống một giáo sĩ nhiệt thành, mà giống một nghệ nhân tận tụy, luôn đặt tình cảm và các mối quan hệ con người lên hàng đầu hơn.
Người đàn ông ấy mang những cảm xúc phức tạp trên khuôn mặt—những cảm xúc khiến ông trông như vừa muốn hét lên, lại vừa muốn khóc—trong lúc ông gỡ mình khỏi những dân làng đang cố gắng cản ông lại.
"Ngài Rahden! Sao ngài lại—?"
Khi Sulto bắt đầu nói, một cậu bé thò đầu ra từ phía sau Rahden đang giận dữ.
"Ông nội! Ông không thể tổ chức bàn bạc mà không có ngài Rahden được!"
"Baum! Cháu đưa ngài ấy đến đây à?!"
"Cháu đã thấy lạ khi ông bảo cháu đi hái nấm cùng ngài Rahden. Bọn cháu đã cưỡi ngựa của ông đi."
Lawrence đã hoàn toàn quên hỏi Rahden nghĩ gì về việc họ vay tiền để ông được yên tâm.
Nhưng câu trả lời cho câu hỏi đó thì đã quá rõ ràng.
"Tôi hiểu ông là trưởng làng, Sulto, nhưng ông đã được dặn rõ ràng là không được hỏi kia mà!"
"Nh-nhưng, ngài Rahden! Chúng tôi chỉ đang nghĩ cho ngài và—"
"Không, tôi nghe đủ những lời xấc xược của ông rồi! Chúng ta sẽ trở về làng, Sulto! Lũ cá đang đợi chúng ta!"
"Ngài Rahden, xin hãy nghe này! Chúng tôi đến đây vì lo lắng cho ngài và cho cả ngôi làng!"
Dân làng cố gắng đẩy Rahden lùi lại, nhưng chỉ bằng một cú xoay hông và một cái tóm tay, ông đã nhấc bổng một người đàn ông trưởng thành lên không trung và quăng đi như một con mèo.
Sulto gần như sắp khóc; cậu bé Baum đã phất cờ nổi loạn chống lại Sulto cùng những dân làng khác và đưa Rahden đến Salonia để chiến đấu bên cạnh ông.
Vị giám mục dẻo miệng thì bối rối, còn Holo thì mỉm cười thích thú trước sự hỗn loạn bất ngờ này.
Chuyện gì đang xảy ra thế này? Lawrence thở dài.
"Dừng lại ngay!"
Hai bàn tay đập mạnh xuống bàn tạo ra một tiếng rầm lớn.
Mọi người quay lại nhìn Elsa—lông mày cô nhíu lại vì giận dữ.
"Đây là nhà thờ! Là nhà của Chúa! Bất kể lý do gì, các người cũng không được làm ồn ở đây!"
Uy lực của cô đủ làm cả tóc mái cô rung lên; chắc chắn sức mạnh đó đến từ việc thường xuyên phải la mắng ba đứa con trai và một ông chồng ở nhà.
Mắt Rahden, Sulto và tất nhiên là cả Baum đều mở to. Tất cả dân làng đều phản ứng y hệt.
"Các người không hiểu rằng Chúa luôn dõi theo sao?! Các người không thấy xấu hổ à?!"
Lời quở trách của cô như một nhát roi, và tất cả những người đàn ông đồng loạt rụt cổ lại.
Âm thanh duy nhất trong sảnh đường tĩnh lặng là tiếng Holo cười khúc khích.
"Thưa đức cha, xin đức cha đưa Trưởng làng Sulto và những dân làng khác sang phòng khác."
Sulto định phản đối, nhưng khi Elsa chống tay lên hông và nheo mắt nhìn ông, ông thu người lại như một cậu bé.
"Ngài Rahden, và... cậu bé Baum. Ở lại đây với tôi."
Rahden và Baum chênh lệch tuổi tác đủ để làm ông cháu, nhưng cách họ trao đổi ánh mắt lại khiến họ trông như những người bạn.
"Đi thôi! Những người còn lại, bắt tay vào việc đi!"
Mệnh lệnh của Elsa thúc đẩy mọi người hành động như một bầy cừu.
Sulto quay lại nhìn Rahden với vẻ hối hận, và dù Rahden nhận ra chuyện gì đang xảy ra, ông vẫn không hề chạm mắt với người đàn ông kia.
~~~
Cái cách Elsa mang đồ uống ra và rót cho mọi người cho thấy rõ cô đã bị đau họng vì phải cao giọng như vậy.
Rahden vất vả nhét thân hình to lớn của mình vào ghế và im lặng nhìn chằm chằm vào chiếc cốc.
"Tên tôi là Kraft Lawrence," Lawrence mở lời giới thiệu.
Và đúng như anh nghĩ, Rahden, với bản tính thẳng thắn, đã ngẩng đầu lên.
"...Rahden."
Câu trả lời của ông thật ngắn gọn.
"Quả là một cái tên khá lạ. Đó là họ của ngài, hay là...?"
"Ngài Rahden chỉ là ngài Rahden thôi," cậu bé Baum xen vào. "Cháu tên là Baum. Sulto là ông nội cháu."
Holo lập tức có cảm tình với cậu bé Baum dũng cảm này trong chớp mắt. Cô mỉm cười thích thú khi cậu bé quay sang Elsa và hỏi, "Con không được uống rượu vang ạ?" và bị Elsa mắng.
"Vậy, chú Lawrence, chú đứng về phía ông nội cháu à?"
Cậu bé đi thẳng vào vấn đề.
Tuy là cháu trai của trưởng làng, nhưng cậu lại đang làm trái ý ông mình.
"Hiện tại tôi không đứng về phía ai cả."
"Nhưng chẳng phải chú đang hùa với nhà thờ và định làm chính xác những gì ông nội cháu vừa nói sao?"
"Tôi có định làm vậy, chỉ vì ông ấy đã yêu cầu, nhưng tình hình có vẻ phức tạp hơn thế. Tôi muốn nghe hai người nói gì. Đó là lý do chúng tôi mời Trưởng làng Sulto và những người khác rời đi."
Baum nhìn chằm chằm Lawrence một lúc rồi khịt mũi quay đi.
"Có phải trưởng làng đang cố vay tiền từ nhà thờ không?" cuối cùng Rahden cũng hỏi, và Lawrence gật đầu đáp.
"Đây không phải là quyết định nhất trí của cả làng sao?"
"..."
Rahden im lặng, và Baum lên tiếng thay.
"Mọi người, ngoại trừ ngài Rahden và những người như cháu, những người đứng về phía ngài Rahden, đều đồng ý vay tiền."
Lawrence đã nắm được sơ bộ tình hình trong làng.
"Ông nội bảo là ông đến thị trấn để bàn chuyện làm ăn, nhưng ông lại sai cháu và ngài Rahden vào núi, và cháu đã thấy có gì đó mờ ám. Và đúng như cháu nghĩ, khi quay lại, chúng cháu nghe nói hầu hết dân làng đã đến thị trấn."
"Đó là lý do hai người vội vã cưỡi ngựa đến đây sao?"
"Chính xác. Chú thấy đấy, ngài Rahden không thể cưỡi ngựa một mình."
Hình ảnh Baum cầm cương và Rahden ngồi phía sau quả là hơi kỳ quặc, nhưng nó lại mang đến một nụ cười nhẹ trên môi Lawrence.
"Xin hãy cứ coi như chuyện vay mượn này chưa từng xảy ra," Rahden nói. "Ngôi làng chưa bao giờ cần một khoản vay. Trong tương lai cũng sẽ không cần."
"Nhưng Sulto nói rằng ngài đã bày tỏ vài nỗi lo lắng về triển vọng tương lai của ngôi làng. Ông ấy muốn vay tiền để xoa dịu những nỗi lo của ngài."
"..."
Rahden im lặng.
"Có phải ngài lo lắng vì trại cá đang hoạt động không tốt không?"
Rahden không hề có cử chỉ xác nhận hay phủ nhận câu hỏi của Lawrence, chỉ nhìn chằm chằm vào cốc của mình.
"Cháu nghĩ trại cá không thành công là do việc thuộc da," Baum xen vào, giọng cậu bé khó mà giấu được sự bực bội. "Chúng ta chỉ cần ngừng việc thuộc da lại. Lúc đó chúng ta có thể thả cá vào hồ. Ngôi làng sẽ trở lại bình thường."
Không nghi ngờ gì nữa, quá trình thuộc da có thể làm ô nhiễm nguồn nước. Lawrence liếc nhìn Holo vì anh nghĩ việc điều tra xem quá trình thuộc da có phải là nguyên nhân hay không cũng là một lựa chọn.
Nhưng Rahden quay sang nhìn Baum và nói, "Việc thuộc da không liên quan gì đến chuyện này. Nguồn nước hoàn toàn tách biệt."
"Nhưng—"
Baum định cãi lại, nhưng cái nhìn của Rahden đã đủ để cậu im lặng.
"Ta có lo lắng," Rahden quay lại nhìn Lawrence. "Việc săn nai... không bền vững. Ta muốn khôi phục lại trại cá trong làng."
Ngôn từ giản dị khiến ông nghe giống như một tinh linh cây. Nhưng một tồn tại hòa mình với thiên nhiên hiện đang ngồi cạnh Lawrence dường như đã khẽ vểnh tai dưới lớp mũ trùm đầu.
"Và ta không phù hợp để trở thành một giám mục."
"Ngài có chắc về điều đó không?" Lần này là Elsa lên tiếng. "Theo những gì tôi được nghe, ngài còn giống một giám mục hơn rất nhiều người đang khoác áo choàng giám mục đấy."
Cô nói như thể đang đưa ra một sự thật hiển nhiên—trắng là trắng, đen là đen—và điều đó mang lại sức thuyết phục một cách kỳ lạ.
Rahden định nói gì đó, nhưng cuối cùng lại quyết định thôi.
Elsa có vẻ hơi bực mình với ông trong giây lát trước khi tiếp tục: "Tôi thường được yêu cầu quản lý sổ sách kế toán ở các nhà thờ trong khu vực. Mọi giám mục ở mọi nhà thờ tôi từng đến đều có lịch sử công tác ấn tượng, nhưng không một ai cống hiến hết mình cho việc nghiên cứu Kinh Thánh, và tất cả họ đều bất cẩn với tiền bạc. Tôi luôn nghĩ rằng những người như vậy cần phải bị loại bỏ và thay thế bằng những giám mục thực sự có đức tin."
Lời nói của Elsa khiến Rahden nhắm mắt cười gượng.
"Ta biết cô là một người vô cùng sùng đạo," ông nói. "Được nghe những lời đó từ cô thật là một niềm an ủi. Điều đó nói với ta rằng ta đã sống cuộc đời mình đúng như ta nên sống."
Dù vẻ ngoài khiến ông có vẻ như tiếp cận mọi vấn đề bằng sức mạnh cơ bắp, nhưng cách ông dùng từ lại khiến ông nghe giống như một vị giám mục thực thụ.
"Tôi chỉ nói thật thôi," Elsa nói.
Mắt Rahden chợt mở to và ông quay sang Baum, gần như thể đang cố lảng tránh vấn đề.
"Mọi người đang đánh giá quá cao ta rồi."
"Ngài Rahden..."
Có một chút thất vọng trong giọng nói của Baum, và Rahden thở dài.
"Ngài Lawrence, phải không? Tên ta là Rahden. Chỉ là Rahden thôi. Ta rời quê hương khi còn trẻ, cỡ tuổi Baum bây giờ. Đã khoảng bốn mươi năm rồi. Những người biết tên thật của ta có lẽ giờ này đều đã khuất núi."
Nhiều năm lao động cực nhọc ngoài trời đã để lại dấu vết trên làn da của ông—mang lại cho nó một nét sạm đặc biệt do mồ hôi, bụi bẩn và ánh nắng mặt trời tạo ra. Cái đầu trọc và đôi bàn tay của Rahden cũng vậy; ông cúi nhìn đôi bàn tay mình trong lúc tiếp tục nói.
"Quê ta là ngôi làng nghèo Rahdelli. Ngài từng nghe nói về nó rồi, phải không?"
Lawrence bất giác nín thở khi Rahden nhắc đến cái tên đó.
"Tôi có nghe nói, vâng, nhưng... ngài thực sự đến từ nơi xa xôi đó sao?"
Holo quay sang ngước nhìn Lawrence, đầu hơi nghiêng.
"Ưm, em nhớ những gì anh đã kể với em trước đây chứ? Về những quý tộc rưới mật ong và chanh lên đá lạnh ấy? Vùng đất của mùa hè vĩnh cửu, của sa mạc rực lửa? Đó chính là Rahdelli."
"Ha-ha, em có nhớ truyền thuyết đó."
Để đến Rahdelli từ Salonia, người ta phải đi về phía tây rồi từ đó đi thuyền.
Hoàn toàn có thể đi bộ một đoạn đường, nhưng việc vượt qua dãy núi dốc chắn ngang đường sẽ biến nó thành một cuộc hành trình nguy hiểm đến tính mạng.
Bằng cách này hay cách khác, sẽ mất ít nhất ba tháng để đến đó—trong trường hợp xấu nhất là sáu tháng.
Người ta sẽ phải đi đến điểm cực nam của lục địa, và sau khi chạm trán vùng biển ấm áp, lấp lánh ở đó, người ta sẽ phải đi thuyền qua một số hòn đảo để đến bờ biển đối diện.
Nó xa đến mức Lawrence mới chỉ nghe nói đến tên của nó.
"Rahdelli... Đó có phải là lý do ngài tên là Rahden không?"
Lawrence chắc chắn rằng không ai có thể tìm thấy bất kỳ ai khác từ Rahdelli ở khu vực này. Không có chuyện Rahden tìm được ai biết tên thật của mình, đó là lý do tại sao ông lấy tên quê hương mình.
Anh hiểu tâm lý đó sau bao nhiêu năm sống trên đường.
"Ngôi làng của ta đã suy tàn, đang chết dần chết mòn. Và những vùng biển ấm áp thì đầy rẫy cá mập, nên chúng ta không bao giờ bắt đủ cá. Chúng ta... ừm, tôi không chắc ở đây các người sẽ gọi nó là gì, nhưng chúng ta kiếm sống bằng cách tìm kiếm kho báu dưới biển. Chúng ta hiếm khi tìm thấy gì; có lẽ một năm một lần. Chúng ta giống như những tên cướp biển vậy."
Kho báu có thể tìm thấy ở biển thường là hổ phách trôi dạt vào bờ sau một cơn bão, nhưng khi Rahden nói họ là cướp biển, Lawrence tự hỏi liệu ông có chỉ huy một nhóm khét tiếng nào không.
"Sau ba năm không thu hoạch được gì, ngôi làng của ta sụp đổ. Lúc đó ta chỉ còn một mình, nên ta bị thu hút bởi vùng đất bên kia bờ biển và muốn xem có gì ở phía bên kia. Ta lên một con tàu buôn làm thợ chèo. Ta đủ khỏe nhờ việc tìm kiếm đá quý dưới biển, nên họ đã trọng dụng ta."
Chèo tàu là công việc cực nhọc thường được dùng làm hình phạt. Đó chắc hẳn là thứ đã mang lại cho Rahden thể hình như hiện tại.
"Ta đi từ tàu này sang tàu khác và cuối cùng thấy mình ở một vùng đất lạnh giá. Cuộc chiến giữa Giáo hội và những người ngoại đạo phương bắc lúc đó đang ở đỉnh điểm, và mọi con tàu đều có những giáo sĩ nhiệt thành trên đó. Đó là lúc ta biết đến giáo lý của Chúa."
"Đó là lúc ngài đến khu vực này sao?" Lawrence hỏi.
"Hmm? Ồ, phải. Chủ nhân của ta... ta cho là có thể gọi ông ấy như vậy—ta luôn ở sát bên ông ấy và đi đến chiến trường. Nhưng hồi đó tình hình tồi tệ lắm, và ta không thể đi qua nơi này. Ta không thể bỏ rơi tất cả những người ta thấy đang chạy trốn khỏi chính cái nơi mà chúng ta đang hướng đến."
Bản thân Rahden cũng đã rời bỏ một ngôi làng bị phá hủy, nên có lẽ ông càng thấy khó khăn hơn khi rời bỏ họ.
"Khi ta rời khỏi chủ nhân của mình, ông ấy đã lo cho ta mọi đặc quyền đối với mảnh đất mà ngôi làng hiện đang tọa lạc như một món quà chia tay. Ông ấy có sức lôi cuốn đến mức có thể cải đạo một con chim bằng bài giảng của mình, nên ta cho là điều đó đối với ông ấy rất dễ dàng."
Nhận ra rằng Rahden không phải là người ban đầu chiếm được mảnh đất này khiến Lawrence phần nào nhẹ nhõm.
"Ta đã quyết định sẽ sống những ngày cuối đời ở đây. Ta đã quyết định sẽ biến nơi này thành nhà cho những người đã mất nhà cửa. Ta thề sẽ cống hiến hết mình cho nơi này, nên ta đã đào một vũng nước chứa đầy lá cây lên và xây một cái hồ."
"Tại sao lại là hồ cá?"
Holo hỏi, gần như buột miệng.
Lawrence cũng đồng ý. Anh cũng muốn biết tại sao ông lại quyết định xây một trại cá.
Một vẻ mặt bẽn lẽn hiện lên trên khuôn mặt Rahden.
"Vì đoạn Kinh Thánh đầu tiên ta học thuộc. Chúa mang một ổ bánh mì và một con cá đến cho những người đang đói. Mọi người xé ổ bánh làm đôi và đưa một nửa cho người bên cạnh, và một người khác xé con cá của họ làm đôi và đưa một nửa cho người bên cạnh. Và thế là, một ổ bánh mì và một con cá đã xua tan nạn đói cho một ngàn người."
Câu chuyện bánh mì và cá là một câu chuyện ngụ ngôn về tình yêu thương đồng loại, và Rahden gần như đã hiểu câu chuyện đó theo nghĩa đen.
"Hết người này đến người khác, những người trốn thoát khỏi ngọn lửa chiến tranh trôi dạt đến đây, và cuối cùng là những người đến sau vì nghe được những tin đồn. Ngay cả phụ nữ và trẻ em cũng có thể chăm sóc cá và giúp mở rộng hồ. Mọi người làm việc cùng nhau, và chúng ta thu hoạch được vô số cá mỗi năm—nhiều hơn những gì ta có thể tưởng tượng khi còn bé."
"Cá hồi của chúng cháu ngon lắm! Hai cô chú đã ăn thử chưa ạ?"
Khi Baum hỏi, Lawrence lắc đầu.
"Đây là năm đầu tiên chúng tôi đến đây. Chúng tôi đã rất thất vọng khi nghe nói không được ăn món đó."
"Ồ..."
Baum thực sự cảm thấy buồn bực. Rahden mỉm cười với cậu bé và tiếp tục câu chuyện của mình.
"Hết chuyện này đến chuyện khác xảy ra, và bốn mươi năm trôi qua trong chớp mắt. Đã bao nhiêu thời gian trôi qua—Sulto đã bị thiêu rụi nhà cửa và đến đây với một đứa trẻ sơ sinh trên tay; đứa trẻ đó lớn lên và có con của riêng mình, và đứa con ấy đã lớn chừng này rồi."
Môi Baum cong lên ngượng ngùng dưới cái nhìn âu yếm của Rahden.
"Ta đã làm theo những lời dạy của Chúa trong suốt cuộc đời mình. Nhưng ta không có ý định trở thành một giám mục. Ta sẽ bảo vệ ngôi làng của mình, và ta sẽ chết trong ngôi làng của mình. Đó là tất cả những gì ta cầu nguyện." Ánh mắt Rahden hướng lên trần nhà, như thể đang nhìn lên cõi thiên đàng. "Ta muốn được chôn cất bên hồ nước, để những con cá hồi béo ngậy tụ tập dưới bóng cây sẽ mọc lên từ xác ta. Đó là cách ta muốn ngôi làng tồn tại." Ông hạ ánh mắt xuống và nói nhỏ, "Đó là tất cả những gì ta muốn."
Có sức mạnh trong giọng nói của ông bất chấp tuổi tác, nhưng điều đó chỉ làm tăng thêm hương vị buồn bã của một người đàn ông trong những năm tháng xế chiều.
Holo cúi đầu, hai tay nắm chặt để trên đùi. Dù bề ngoài có vẻ lạnh lùng, nhưng cô lại có trái tim nhân hậu nhất, và những câu chuyện kiểu này luôn tác động đến cô nhiều hơn bất kỳ ai mà Lawrence biết.
"Ngay cả khi nhà thờ ở đây cho dân làng vay đủ tiền để không bao giờ phải làm việc thêm một ngày nào trong đời sao?" Lawrence hỏi, giọng gần như đùa cợt, và Rahden chỉ đáp lại anh bằng một nụ cười mệt mỏi.
"Ta sẽ không đi gặp Đức Giáo hoàng đâu. Ta không có lý do gì để rời khỏi làng cả."
Lawrence tưởng chừng như thấy đôi tai Holo khẽ giật dưới lớp mũ trùm đầu, nhưng cô có lẽ bị tác động nhiều hơn bởi ước nguyện mà Rahden cuối cùng đã thổ lộ với họ.
Lawrence liếc nhìn Holo trước khi nói, "Được rồi."
Rahden nhìn Lawrence một lúc trước khi lặng lẽ cúi đầu.
~~~
Người dân Giáo phận Rahden đã đến thị trấn mà không sắp xếp chỗ ở từ trước, nên vị giám mục đã quyết định cho phép họ nghỉ lại nhà thờ qua đêm. Lawrence muốn nói rằng đó là một quyết định phù hợp đến từ nhà thờ, hiện thân của lòng thương xót của Chúa, nhưng vị giám mục có vẻ không phải là kiểu người hay để tâm đến tiểu tiết—rất có thể ông ấy đã đưa ra quyết định một cách bốc đồng. Elsa, người khả năng cao sẽ phải chịu trách nhiệm kiểm soát họ do đạo đức làm việc không ai sánh kịp của mình, tỏ ra vô cùng mệt mỏi.
"Mọi chuyện đã chuyển biến theo một hướng kỳ lạ nhỉ..."
Khi cô ra tiễn Lawrence và Holo, lời nói của cô lúc đó cũng nặng trĩu sự mệt mỏi.
"Tôi cho rằng điều này tốt hơn nhiều so với việc phát hiện ra vấn đề sau khi đàm phán đã tiến triển."
Có một Rahden bướng bỉnh, và sau đó là Sulto cùng những người dân làng, những người tôn trọng Rahden đến mức họ sẵn sàng hành động hấp tấp vì lợi ích của ông ấy ngay cả khi điều đó đi ngược lại mong muốn của ông.
Đây không phải là một vấn đề logic, điều đó có nghĩa là không có cách tiếp cận chính xác nào cho vấn đề này; Lawrence chỉ hy vọng rằng họ có thể giải quyết chuyện này theo cách mà trong vài năm tới họ có thể trìu mến nhìn lại và mỉm cười.
"Ngày mai tôi sẽ đến nữa."
"Cảm ơn anh. Tôi sẽ canh chừng để đảm bảo Đức cha không mang bia ra."
Vị giám mục không phải là người xấu, nhưng rõ ràng ông ấy không phải là một giáo sĩ chu đáo cho lắm, đặc biệt là khi ông ấy đã ném một thương nhân vào tù chỉ vì ông cảm thấy đó là việc mình nên làm trong suốt vụ lùm xùm về nợ nần.
"Vậy, chúc cô ngủ ngon."
"Chúc ngủ ngon," Elsa mệt mỏi nói, rồi quay lại nhà thờ, đôi vai hơi thõng xuống.
Khi khoảnh khắc đó qua đi, Lawrence quay sang Holo bên cạnh.
"Em sẽ thức thêm một lúc sau khi chúng ta trở về quán trọ, đúng không?"
Sau khi chọn loại rượu whisky sẽ được dùng trong lễ hội tối qua, Holo đã uống say mèm trong một cuộc thi uống rượu.
Tất nhiên, sáng nay cô không hề thức dậy, và vẫn còn trong tình trạng mệt mỏi vào ban ngày; chỉ khi mặt trời bắt đầu lặn, cô mới trở lại bình thường. Cả ngày hôm nay, cô chỉ ăn mỗi cá mòi và một chút súp lót dạ. Hơn nữa, thị trấn đang ở lúc nhộn nhịp nhất, vì thời điểm kết thúc phiên chợ trùng với việc chuẩn bị lễ hội.
Sự hối hả và nhộn nhịp của thị trấn lúc tối muộn thậm chí còn lớn hơn cả ban ngày, và hầu hết những người tham gia lễ hội đều say xỉn.
"Ừ. Em đang thèm thịt mỡ đây."
"Được rồi, được rồi."
Họ bước vào một quán rượu gần đó theo sự thúc giục của cô.
~~~
Lawrence nhâm nhi cốc bia của mình trong khi nhìn Holo cắn ngập răng vào một miếng sườn cừu.
Khu chợ lớn là nơi hội tụ của tất cả các nông sản, vì vậy không chỉ có các lò chưng cất trong thị trấn đang phô diễn sản phẩm của họ—mà còn có những người sử dụng lò chưng cất của riêng mình và các kỹ thuật bí mật. Thứ Lawrence đang uống được làm từ lúa mạch hun khói bằng củi đốn từ cây ăn quả, mang lại hương vị trái cây.
Nó rất dễ uống; anh có cảm giác Holo có thể uống cạn một thùng lớn nếu để cô tự do.
"Em nghĩ chúng ta nên đứng về phía ai?"
"Mm?"
Sau khi nuốt trôi miếng thịt cừu béo ngậy bằng một ngụm bia, Holo quay sang Lawrence, một lớp bọt dày bám trên môi cô.
"Thường thì anh sẽ tiếp cận chuyện này như một thương nhân và đặt lên bàn cân, nếu đó là vấn đề logic."
Có rất nhiều cảm xúc liên quan đến sự bất đồng này giữa Sulto và Rahden.
"Hoặc có lẽ anh không nên can thiệp chút nào chăng?"
Một người ngoài can thiệp vào những việc này thường làm mọi chuyện tồi tệ hơn.
Khoản nợ đang hoành hành trong thị trấn tình cờ lại là một vấn đề dễ giải quyết hơn đối với người ngoài.
Tuy vậy, vấn đề cụ thể này dường như không phải là một trở ngại quá dốc, nhưng cũng không phải là một vấn đề mà tự họ có thể giải quyết được.
"Vì lý do gì mà anh muốn giúp họ?"
Holo cầm lấy khúc xương cừu đã sạch trơn và điên cuồng vẫy tay gọi cô hầu bàn đang bưng thức ăn đi vòng quanh.
"Vì nếu không làm thì thật lãng phí."
"Vậy sao?"
Holo, đang nhai những hạt đậu rang ăn kèm với thịt cừu, ngạc nhiên nhìn anh.
"Một thương nhân mà em chưa từng gặp mặt đang bán món thịt cừu có chất lượng hảo hạng ở chợ. Nhưng bản thân anh ta lại không nhận ra chất lượng của món thịt, nên anh ta đang cố bán tống bán tháo nó với giá rẻ cho những người nấu thịt lẫn lộn thành món hầm ở các quầy hàng rẻ tiền."
"Thật là một tên ngốc! Thịt cừu ngon có mùi thảo mộc, và ngon nhất là nấu trong lò nướng bánh mì hay thứ gì đó tương tự. Những mẩu thịt vụn thì luộc mới là ngon nhất!"
"Thấy chưa? Em cũng muốn lên tiếng mà, đúng không?"
Holo gật đầu.
"Ý anh là chuyện này cũng không khác gì sao?"
"Chính xác. Ông ấy đã khai khẩn mảnh đất có được bằng những thủ đoạn mờ ám và xây dựng nên một ngôi làng nhỏ tuyệt vời như vậy. Mọi người đã quen gọi ông ấy là giám mục, nhưng ông ấy hoàn toàn không phải là một giáo sĩ. Thế nhưng một ngày nọ, một lời mời trở thành giám mục thực sự lại đến trực tiếp từ Đức Giáo hoàng, và ông ấy lại từ chối lời đề nghị đó vì lý do nào đó?"
Giám mục là một chức vụ rất cao trong hàng giáo sĩ. Đó thường là một tước hiệu chỉ đạt được sau khi tự nguyện nghiên cứu sâu về thần học, thông thạo giáo luật cấp cao trong khi phục vụ tại một nhà thờ, sau đó từ từ leo lên nấc thang của Giáo hội bắt đầu với tư cách là linh mục phụ tá.
Không thể đạt được nó chỉ bằng đức tin; người ta cần sự xảo quyệt và bản lĩnh chính trị cùng với việc dâng nhiều tiền đút lót cho các giáo sĩ cấp cao để vượt qua những rào cản này.
Nhưng được trao cơ hội bỏ qua tất cả những điều đó và ngay lập tức trở thành một giám mục, chỉ để từ chối vị trí này? Bất cứ ai cũng sẽ gọi đó là một sự lãng phí.
"Có lẽ ông ấy chỉ đơn giản là không có hứng thú. Nhóc Col rất yêu Kinh Thánh, nhưng nó không phải kiểu người thích vênh váo trong nhà thờ, phải không?"
"Anh có cảm giác chuyện này không chỉ đơn thuần là vấn đề hứng thú. Nếu ông ấy trở thành một giám mục, thì ngôi làng của ông ấy sẽ trở thành ngai tòa chính thức của một giáo phận. Có những lợi ích thiết thực khi điều đó xảy ra, và bất kỳ ai thực sự quan tâm đến sự an lành của ngôi làng sẽ có thể nhận ra điều đó."
"Mm."
Holo đáp lại một cách nửa vời; có thể cô không hiểu ý Lawrence, hoặc có thể là do cô vừa nhìn thấy họ lấy ra một tảng thịt cừu từ lò nướng trong bếp.
"Vị giám mục ở đây cũng nói như vậy, nhưng Giáo phận Rahden có quyền đối với vùng đất này thay mặt cho một nhà thờ không hề tồn tại. Nếu hậu duệ của cựu chủ nhân quý tộc hay ai đó tương tự đến và tuyên bố toàn bộ chuyện này là một trò lừa đảo, thì họ sẽ không có cách nào để chống lại."
"Em... cho là chuyện đó có thể xảy ra, nhỉ."
"Nhưng nếu một giám mục thực sự phụ trách giáo phận, thì Giáo hội sẽ đứng về phía họ trong một tình huống khó khăn như vậy. Vị quý tộc đó sẽ phải thực sự chiến đấu nếu muốn lấy lại đất đai trong trường hợp đó. Nó sẽ giống hệt như việc đấu tranh với bất kỳ địa chủ nào khác."
Ngay khi Lawrence vừa dứt lời, cô hầu bàn lanh lợi, với mái tóc đỏ buộc sau bằng một dải ruy băng, đặt đĩa thịt cừu nướng nóng hổi lên bàn của họ.
Holo gọi thêm ly đồ uống thứ hai khi cô hầu bàn đi ngang qua, trước khi lấy con dao của mình và rạch một đường trên miếng thịt.
"Tất cả chỗ này là của em."
Cô đang thực hành việc tranh chấp lãnh thổ.
"Và nếu thị trấn gặp khó khăn về tài chính trong tương lai, thì nhà thờ Salonia sẽ dễ dàng dang tay giúp đỡ hơn nhiều. Người ta hiếm khi thắc mắc khi tiền bạc được chuyển qua lại giữa các nhà thờ, họ cũng không nghĩ đó là vấn đề gì lớn."
"Em hiểu điều đó. Hồi em còn là bạn đồng hành của anh, thật đau lòng khi chỉ có một bữa ăn vì anh luôn là người trả tiền. Anh nên biết bây giờ lương tâm em thoải mái đến nhường nào khi em là vợ anh đi."
"..."
Lawrence không nói nên lời quay sang nhìn cô, môi anh nở một nụ cười gượng gạo, và đổi lại, cô trao cho anh một nụ cười vừa ngọt ngào vừa nham hiểm. Sau đó, cô vui vẻ cắt miếng thịt và cắn một miếng.
"À thì, nếu Rahden trở thành giám mục, tước hiệu đó sẽ đi kèm với đủ loại đặc quyền, em hiểu chứ. Ngay cả khi điều tồi tệ nhất xảy ra với ngôi làng, ông ấy cũng sẽ không phải lo lắng nhiều như vậy nữa."
Sau khi nhai rồm rộp phần sụn, Holo lên tiếng mà không thèm lau miệng. "Chắc chắn cũng có những bất lợi chứ, phải không?"
Tất nhiên đó là nơi tâm trí cô sẽ hướng tới. Cô là sói thông thái cơ mà.
"Tất nhiên rồi. Ông ấy sẽ là một phần của Giáo hội, vì vậy bất cứ ai đảm nhận vị trí của ông ấy đều sẽ ở vị trí cao hơn trưởng làng."
"Mm. Em có thể tưởng tượng đây sẽ là một cá nhân đặc biệt khó đối phó."
"Anh nghĩ đó có thể là điều mà Rahden đang lo lắng."
Rahden đã nuôi dưỡng và phát triển ngôi làng dưới sự chăm sóc cá nhân của riêng mình. Ông sẽ không vui vẻ gì nếu một người ngoài bước vào và bắt đầu hành động như thể đó là của riêng họ.
Khi những suy nghĩ đó lướt qua tâm trí Lawrence, anh lấy một miếng thịt cừu, nhỏ hơn cả phần nhỏ nhất mà Holo đã cắt cho anh, và cắn một miếng. Vị mỡ ngọt ngào lấp đầy miệng anh.
"Và em đã nhận ra điều gì đó trong lúc Rahden đang nói, đúng không?" Lawrence hỏi. Holo, đang khom người nhai miếng sườn cừu của mình, ngước nhìn anh với đôi mắt tròn xoe.
"Không có gì đáng chú ý cả. Ông ấy nói việc săn nai không ổn định, nên ông ấy hy vọng sẽ đưa trại cá trở lại làng, phải không?"
"Ông ấy đang nói dối sao?"
Holo nhún đôi vai thanh mảnh; cô nhìn chằm chằm vào khúc xương đã sạch trơn, rồi cắm răng nanh vào một miếng thịt gân guốc vẫn còn dính trên đó.
"Anh nói rằng công việc săn nai của ông ta đang tiến triển tốt. Có lẽ tên ngốc đó chỉ đơn giản là không thích nghĩ đến điều đó."
Cách cô nói khiến cô như đang cố tình tạo khoảng cách tình cảm giữa mình và ông ấy. Lawrence cảm thấy rằng cô không mặn mà với việc chạm đến cốt lõi của vấn đề, mặc dù nó dường như không đủ lớn để coi là cô đang giấu giếm điều gì.
Trong lúc tự hỏi tại sao lại như vậy, anh nhớ lại những gì Rahden đã nói.
"Có lẽ Rahden xây dựng cái hồ trên núi không phải để làm giàu, mà vì ông ấy đa cảm về quê hương mà ông ấy đã bỏ lại."
Ông ấy nói rằng đoạn Kinh Thánh đầu tiên ông học thuộc đã hướng dẫn ông làm như vậy, nhưng việc xây một cái hồ, trong tất cả mọi thứ, vẫn khá là không tự nhiên.
Holo không trả lời ngay; sau khi gặm xương với những tiếng nhai rồm rộp lớn, cô đặt nó xuống và thở dài.
"Em không biết con người nghĩ gì nữa."
Nhận xét của cô nghe có vẻ vô tình, nhưng Lawrence biết sâu thẳm bên trong cô cảm thấy thế nào.
Cô từng sống ở một nơi tên là Yoitsu với bạn bè mình, và một ngày nọ cô rời đi hoàn toàn theo ý thích bốc đồng. Dù cô định sẽ trở về ngay lập tức, nhưng cuối cùng trong chuyến lang thang của mình, cô lại tình cờ trông coi vụ thu hoạch lúa mì ở một thị trấn tên là Pasloe. Cô khẳng định mình đã hứa với một người dân làng mà cô gặp ở đó và cuối cùng đã hoàn thành vai trò đó trong nhiều thế kỷ vì ý thức nghĩa vụ. Thời gian trôi qua, Holo quên mất đường về nhà, và những người bạn cũ của cô đã mất tích trong sự tàn phá của thời gian. Không còn ai đáp lại những tiếng tru cô đơn của cô nữa.
Và bất chấp tất cả những điều đó, Lawrence lại đưa ra chủ đề tái tạo một ngôi nhà đã mất.
Một vấn đề thường được chôn vùi, một vấn đề không thể giải quyết, đã ló mặt vào những thời điểm như thế này.
Dù anh hiểu lý do tại sao cô muốn tạo khoảng cách với khái niệm này, nhưng vẫn còn một điều anh không hiểu.
"Nhưng điều đó không thực sự liên quan gì đến việc trở thành một giám mục."
Vậy điều đó có nghĩa là gì?
Lawrence ngồi suy nghĩ, tay cầm cốc bia, nhưng suy nghĩ của anh không dẫn đến một kết luận rõ ràng. Thành thật mà nói, có vẻ vô lý khi Rahden từ chối vị trí giám mục. Anh cũng không thể tìm ra lý do hợp lý nào để ông ấy lại gay gắt với Sulto hay can thiệp, hoặc để mọi chuyện biến thành một vụ ẩu đả lớn trong nhà thờ.
Chắc chắn phải có một lý do khác khiến Rahden từ chối vị trí này.
Khi những suy nghĩ đó đang quanh quẩn trong đầu anh, anh chú ý thấy Holo đang nhìn anh từ phía bên kia miếng thịt cừu với vẻ mặt mệt mỏi.
"Hmm? C-có chuyện gì vậy? Sao thế?"
Anh ngạc nhiên đưa tay lên mặt, tự hỏi có thứ gì dính trên người không, rồi nhìn xuống miếng thịt cừu, cũng tự hỏi liệu mình có vô tình cắt một miếng mỡ cho mình không, đó vốn là phần yêu thích của Holo.
Khi cô nhìn thấy phản ứng của anh, cô thở dài.
Sau một khoảnh khắc do dự nặng nề, cô mở lời.
"Anh yêu, em nghĩ—"
Ngay khi cô chuẩn bị nói tiếp, một giọng nói lớn ngắt lời cô.
"Chà, chà! Chẳng phải là ngài Lawrence đây sao!"
Họ ngạc nhiên ngước lên thì thấy một người đàn ông đầu hói, râu ria xồm xoàm và bụng phệ—Laud, hình ảnh chân thực của một thương nhân lớn tuổi. Ông ta là chủ công ty đã lần đầu tiên trình trái phiếu cho vay của mình cho họ khi Salonia đang xôn xao vì nợ nần.
Kể từ đó, ông ta đã coi Lawrence như vị anh hùng của chủ nghĩa trọng thương.
"Vợ anh vẫn xinh đẹp như mọi khi."
Mặc dù Holo thường là người sẵn sàng chấp nhận những lời khen ngợi như vậy, nhưng cô chỉ đáp lại bằng một nụ cười mơ hồ vì bị ngắt lời ngay khi cô định nói điều gì đó.
"Anh biết đấy, tôi nghe nói nhà thờ đã bị những người từ Giáo phận Rahden bao vây, và họ đã gọi riêng anh, ngài Lawrence. Đó là về việc liệu ngài Rahden có trở thành một giám mục thực sự hay không, phải không?"
Đến thời điểm này thì mọi người đều đã biết vì Sulto đã thảo luận vấn đề này với nhiều công ty thương mại.
"Vâng... Họ nói rằng các thương nhân trong thị trấn đã từ chối yêu cầu vay mượn của họ."
Giọng điệu của Lawrence mang tính trêu chọc vì anh biết rằng Laud là một trong những người đã từ chối họ. Bản thân Laud nhún vai, một tay cầm cốc bia đầy tràn, trước hàm ý đó.
"Chúng tôi sẽ không bận tâm đến một khoản vay nhỏ... nhưng họ yêu cầu khá nhiều, và anh biết tình hình dạo này thế nào rồi đấy. Và nếu ngài Rahden trở thành một giám mục thực sự, thì các vấn đề sẽ bắt đầu một khi ai đó đến thay thế vị trí của ông ấy. Có nhiều khả năng chúng tôi sẽ không bao giờ được trả lại tiền."
Lawrence đã cân nhắc chính vấn đề đó; bất kỳ thương nhân nào cũng có thể nghĩ đến ít nhất một hoặc hai ví dụ thực tế về việc một chuyện như vậy xảy ra.
"Nhưng các đối tác kinh doanh của tôi và tôi đều đồng ý rằng sẽ là một điều tốt nếu nó trở thành một giáo phận thực sự. Khi nhìn thấy anh, tôi phải tìm hiểu xem anh nghĩ gì."
"Tôi không nghĩ điều này sẽ đúng như những gì ông mong đợi, nhưng..."
Laud nhấp một ngụm đồ uống và nở một nụ cười đồng cảm. "Bản thân ngài Rahden có vẻ không mấy hào hứng với ý tưởng này, phải không?"
Nghe như thể ông ta đã biết điều đó rồi.
"Ông nghĩ tại sao lại như vậy?" Lawrence hỏi.
Khóe mắt ngoài của Laud, đỏ hoe vì rượu, sụp xuống khi ông trả lời, "Hmm... Anh biết đấy, tôi cũng thấy chuyện này kỳ lạ. Nói một cách logic, việc được phong làm giám mục cũng giống như một cô gái quê mùa được một hoàng tử muốn cưới vậy. Tôi biết sẽ có nhiều việc phải làm, nhưng nếu có người mời anh lên ngai vàng, anh sẽ nhận lấy, phải không?"
Lawrence bật cười bất đắc dĩ, nhưng phép ẩn dụ đó thực sự chính xác.
"À thì, ông ấy sẽ phải rời khỏi làng một thời gian nếu trở thành giám mục. Tôi cá là vì trại cá của ông ấy đang hoạt động không tốt. Trưởng làng và tất cả bọn họ đều bận rộn với việc săn nai và tất cả các sản phẩm đó, nên ngài Rahden hẳn nghĩ mình là người duy nhất có thể làm điều đó."
Khi Lawrence hỏi liệu Sulto có định khôi phục trại cá bằng khoản vay không, trưởng làng đã trả lời lảng tránh.
Chắc hẳn ông ấy đã nghĩ rằng việc đổ tiền bạc và công sức vào một trại cá khó duy trì trong khi công việc kinh doanh thịt nai đang tiến triển tốt không phải là hướng đi tốt nhất.
"Và ngài Rahden đã thiết lập toàn bộ cái hồ đó vì ông ấy muốn tái tạo lại vùng biển lý tưởng từ quê hương ông ấy, phải không?"
"Vậy đó là lý do tại sao, phải không?"
Trước cuộc trò chuyện này, đó chẳng qua chỉ là suy đoán của riêng họ, nên Lawrence đã nắm lấy những gì Laud nói.
"Hiển nhiên rồi. Sẽ tốt hơn nếu ở đó có sẵn một cái hồ đẹp đẽ, nhưng ông ấy đã trải qua bao nhiêu rắc rối để đào một cái hố và đổ đầy nước vào đó. Thật cảm động, phải không? Tôi thấy trưởng làng và bạn bè của ông ấy nên giúp đỡ ông ấy, ngay cả khi điều đó không mang lại cho họ một gia tài." Laud nghe có vẻ thất vọng. "Tất cả số cá béo ngậy đó cũng rất ngon," ông lẩm bẩm; đó có lẽ là cảm nhận thực sự của ông.
Nhưng có điều gì đó về cái hồ và việc Rahden tái tạo quê hương lý tưởng của mình có vẻ không hoàn toàn hợp lý trong tâm trí Lawrence.
"Nhưng chẳng phải giấc mơ của ông ấy đã trở thành sự thật rồi sao?"
"Hmm?" Laud ậm ừ đáp.
"Tôi nghe nói điều đó được ghi lại trong biên niên sử của Salonia—cá phong phú đến mức một năm nọ đã cứu Salonia khỏi nạn đói."
"Ồ, vâng, đó là khi tôi còn là một thằng nhóc mũi thò lò. Tôi nhớ chứ. Đó là món cá hồi ngon nhất trên toàn thế giới."
Điều đó đặt ra câu hỏi: Tại sao Rahden vẫn còn gắn bó với nó đến vậy?
"Nhân tiện, trưởng làng và những người khác không nói gì về việc lấp cái hồ, phải không?"
Tất cả những người đàn ông làm việc xa nhà đều lo lắng rằng điều gì đó sẽ xảy ra với khoản tiết kiệm bí mật của họ trong khi họ đi vắng.
Khi Laud nghe thấy khả năng đó, ông ta cười phá lên.
"Ha! Ai lại ngu ngốc như vậy? Nếu vị giám mục từ bỏ trại cá, thì họ sẽ dùng nước đó để thuộc da! Tôi cho rằng trưởng làng và bạn bè của ông ấy sẽ chỉ khắc sâu thêm đức tin của họ vào nó, nghĩ rằng vì ngài Rahden đã tạo ra nó, nó thậm chí có thể là một dòng suối kỳ diệu có thể cứu họ hai lần!"
Khi ông ấy nói theo cách đó, ông ấy có lẽ đã đúng. Mặc dù đó không phải là đại dương tuyệt đẹp từ quê hương của người đàn ông đó, nhưng nó vẫn được đưa vào sử dụng tốt cho dân làng.
Rahden sẽ đi vắng chỉ một năm để hoàn thành các thủ tục giúp ông trở thành một giám mục. Và đánh giá qua cách Laud nói về nó, thật khó tưởng tượng Sulto và những người khác biến cái hồ thành một xưởng thuộc da trong khi Rahden đi vắng.
Trong trường hợp đó, Rahden hoàn toàn có thể trở về từ việc trở thành một giám mục và quay lại việc thiết lập lại trại cá.
Trong khi Lawrence ậm ừ suy nghĩ, Laud đột nhiên dí mặt vào mặt Lawrence, một lời trêu chọc kèm theo hơi thở nặc mùi rượu.
"Tôi và mấy chàng trai nghĩ rằng ngài Rahden có thể sắp thực hiện được giấc mơ thứ hai của mình rồi."
"Cái gì?"
"Hồi trước họ thường tìm kiếm đá quý dưới đáy biển ở quê hương ông ấy, phải không?"
"Đúng là tôi có nghe nói như vậy... Cái gì?! Đợi đã, nhưng làm sao—"
Lawrence thực sự thắc mắc làm sao họ có thể tìm thấy kho báu từ một cái lỗ trên núi mà họ đã xây dựng, và đôi vai của Laud rung lên vì tiếng cười.
"Ha-ha-ha! Đó chỉ là lời đồn đại trong quán rượu thôi! Nhưng mà, thật khó để hiểu làm sao tất cả những chuyện này lại có ý nghĩa nếu không có thứ gì đó như thế, anh biết đấy."
"Vâng, điều đó thật khó hiểu."
"Heh. Mọi người đã đến nói chuyện với các thương nhân khác trong thị trấn về cùng một vấn đề. Mọi người đều đi đến cùng một kết luận. Nhưng mọi người đều nói rằng lần này sẽ khác vì có anh ở đây."
Bây giờ Lawrence đã hiểu.
"Anh biết đấy, tất cả chúng tôi đều đang cá cược xem chuyện này sẽ kết thúc như thế nào."
Laud đã đến thu thập thông tin từ anh để có lợi thế trong vụ cá cược của mình.
Ông ta nháy mắt tinh nghịch.
"Tôi tự hỏi kho báu đó có thể là gì. Đáng buồn thay, dường như tôi không thể tìm ra được," Lawrence trầm ngâm.
"Hmm?"
"Ở vùng biển phía Bắc, người ta có thể tìm thấy hổ phách trôi dạt vào bờ sau một cơn bão. Hoặc... ngọc trai chăng?"
Tuy khó tìm được những khối hổ phách lớn, nhưng hầu như lúc nào người ta cũng có thể thu thập được những mảnh nhỏ hơn. Ngọc trai thì hiếm hơn, nhưng chúng là sản phẩm phụ của động vật có vỏ, nên không có lý gì một ngôi làng lại bị hủy diệt nếu không thu hoạch được chúng trong trọn vẹn ba năm. Nếu họ không thể sản xuất hoặc đánh bắt được bất kỳ loài có vỏ nào thì cũng có lý, nhưng có vẻ không phải như vậy.
"Không phải hổ phách hay ngọc trai đâu," Laud nói. "Ông ấy đã nói gì nhỉ...? Không phải thứ mà người ta hay nghe nói tới ở vùng này. Nó là, ờ..." Ông xoa cái đầu trọc lóc của mình, và đôi mắt ông mở to ngay tức khắc. "Đúng rồi! San hô!"
"San hô?"
"Từ lâu rồi, tôi từng thấy một thương nhân đồ thủ công mỹ nghệ lưu động trưng bày hàng mẫu của họ cho một nhà quý tộc. Nó rất đẹp, màu đỏ và lấp lánh như ngọc. Nó có những đường chạm lộng hoa văn bằng bạc, nên nó có hình dạng tròn, nhưng tôi nghe nói nó từng trông giống như một cái cây mọc dưới biển."
Một cái cây mọc dưới biển—mặc dù Lawrence chỉ mới nghe nói thoáng qua về nó một lần, nhưng đó chính xác là ấn tượng của anh về nó.
Anh không thể hình dung rõ ràng về nó, nhưng cũng có lý khi trong tất cả những thứ trên thế giới rộng lớn này, một cái cây bằng ngọc lại có thể mọc dưới biển.
"Chúng mọc dưới đáy đại dương, và rất khó để xuống đó thu hoạch chúng. Đó là lý do tại sao họ làm những cái móc gắn vào các thanh kim loại trông giống như biểu tượng của Giáo hội, quấn dây thừng quanh chúng và thả chúng xuống nước. Họ kéo các móc lên, rồi lại nhúng chúng xuống. Toàn bộ công việc này đều dựa vào may mắn—nó hoàn toàn làm người ta nhụt chí. Và những thân cây đó phải đủ dày để có thể chạm khắc những viên ngọc từ chúng, điều này khiến cho toàn bộ thử thách thậm chí còn dựa vào may mắn nhiều hơn nữa."
"Tôi hiểu rồi..." Lawrence ấn tượng; thế giới này vẫn còn quá nhiều điều anh chưa biết. Anh nở một nụ cười mệt mỏi với Laud. "Dù vậy, tôi rất nghi ngờ việc họ có thể tái tạo điều đó trong một cái hồ."
"Nhưng giấc mơ thì vẫn là giấc mơ, đúng không?"
Laud nói đúng.
"Chà, đoán là chúng ta vẫn không biết. Ngài Rahden sẽ không đưa ra lý do của mình dựa trên bất cứ điều gì ngoài trại cá."
Điều đó nói với Lawrence rằng việc đi hỏi trực tiếp người đàn ông đó sẽ không mang lại cho anh câu trả lời.
"Dù sao đi nữa, nếu có vẻ như ngài Rahden có thể trở thành một giám mục, hãy cho tôi biết. Tôi muốn quyên góp cho ông ấy một thứ gì đó như một biểu tượng cho sự quen biết của chúng ta."
Laud nở một nụ cười xã giao rồi trở về chỗ ngồi của mình.
Lawrence nhẹ nhõm vì sự hiện diện to lớn và áp đảo của người đàn ông đó đã biến mất, nhưng sự trống rỗng trong lồng ngực khiến anh gần như cảm thấy mọi thứ chỉ là vô ích.
"Hmm... Bây giờ tôi thậm chí còn bối rối hơn cả trước đây," Lawrence lẩm bẩm với một tiếng thở dài, khoanh tay lại.
Họ không thể ép Rahden trở thành giám mục nếu bản thân ông không muốn, nhưng nhìn từ bên ngoài, có vẻ như thật lãng phí nếu ông không nắm lấy cơ hội. Tất nhiên, cả Lawrence và Laud đều bí mật đầu tư vào tình huống này, vì nó sẽ đồng nghĩa với việc họ có thêm một đồng minh trong Giáo hội.
Và Lawrence cũng cảm thấy hiểu được thái độ có vẻ ép buộc của Sulto trái ngược với động cơ của Rahden.
Sulto và những người dân làng khác thực sự biết ơn vì tất cả những gì Rahden đã làm cho họ. Rất có thể họ coi đây là cơ hội để trả nợ cho ông.
Đặc biệt, Rahden dường như đã đi một quãng đường xa như vậy với những lời dạy của Giáo hội đóng vai trò như ngọn gió nâng cánh buồm của ông. Sẽ có ý nghĩa nếu ông muốn trở thành một thành viên thực sự của giới tăng lữ, và cho rằng đây là cơ hội do Chúa ban cho ông.
Nhưng thực tế, việc nhìn thấy một cá nhân cao tuổi đã lãnh đạo mọi người suốt cuộc đời họ, cùng với tất cả những người xung quanh rất kính trọng cá nhân đó, là một cảnh tượng quen thuộc trong các nhà tắm ở Nyohhira.
Có thể có hai thế hệ quý tộc cùng đến nhà tắm. Người cha già đến mức không còn cái răng nào, vậy mà vẫn khăng khăng rằng mình có thể theo kịp những người trẻ tuổi. Con trai ông có thể đủ lớn để có những nếp nhăn rõ rệt trên khuôn mặt, vậy mà ông vẫn cằn nhằn về việc cha mình tiếp tục cưỡi ngựa tuần tra vùng đất của họ và tiếp tục tham gia vào các công việc phức tạp của trang viên kéo dài đến tận đêm khuya trong nhiều ngày liên tiếp.
Người cha sẽ không bao giờ lắng nghe, bất kể người con trai có khuyên ông nghỉ ngơi bao nhiêu lần đi chăng nữa, vì vậy người con trai kéo cha mình đến tận Nyohhira để giúp ông sống chậm lại một chút.
Chỉ đến lúc đó, người cha mới nhận ra đã đến lúc phải nghỉ hưu.
"Anh cá là Rahden biết, về mặt lý trí, rằng ông ấy nên trở thành một giám mục, nhưng..." Lawrence lẩm bẩm, nhưng anh nhận ra rằng Holo, đang ngồi đối diện anh, đã gục đầu xuống, nhìn chằm chằm vào cốc của mình. "Này, em không sao chứ?"
Cô đã im lặng kể từ khi Laud đến, nhưng cô cũng có vẻ tái nhợt. Mặc dù đôi má cô ửng hồng, nhưng ngoài điều đó ra cô dường như nhợt nhạt một cách bất thường. Cô chỉ mới uống hai hoặc ba cốc bia, và đây là ngay sau cơn say xỉn, nên có lẽ nó đang gây tác dụng phụ đối với cô.
Vẫn còn một chút thịt cừu—một dấu hiệu chắc chắn rằng cô không được khỏe. Có vẻ như lựa chọn tốt nhất của họ là gói thức ăn lại và mang về quán trọ.
"Chúng ta về thôi, Holo."
Anh giật lấy cốc bia từ tay cô khi cô đang ngủ gà ngủ gật, thanh toán hóa đơn cho cô hầu bàn tóc đỏ, cõng Holo lên lưng và cầm lấy gói thịt cừu.
Bực bội, anh tự hỏi mình đã cõng cô về quán trọ bao nhiêu lần rồi, nhưng có lẽ cô đã mất cảnh giác vì cô biết anh sẽ làm điều này cho cô.
Đôi khi anh cũng tự hỏi liệu đây có phải là một vở kịch không, nhưng tất nhiên, anh luôn giả vờ như không nhận ra.
Niềm vui của một thương nhân là đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Nếu cô công chúa của anh muốn vòi vĩnh, thì anh sẽ chiều chuộng cô đến hư hỏng.
"Lạnh thật đấy."
Khi họ rời khỏi quán rượu, không khí nặng nề những dấu hiệu của mùa thu. Anh tự hỏi liệu mình có nên đắp chăn cho Holo không, nhưng anh nhăn mặt khi nghĩ đến điều đó—như thế thì hơi quá rồi.
Anh chỉnh lại tư thế của cô trên lưng khi cô có vẻ sắp tuột xuống, và chậm rãi đi về phía quán trọ của họ.
"Có cảm giác như năm nào em ấy cũng nặng hơn vậy..."
Anh nghĩ điều đó thật kỳ lạ, xét đến việc vẻ ngoài của cô không bao giờ thay đổi, nhưng rồi anh nhận ra rằng cô không phải là người đang thay đổi. Holo không nặng hơn; Lawrence mới là người đang yếu đi.
Sẽ có một ngày, việc anh cõng Holo trên lưng đi ngủ sẽ trở thành một ký ức xa xăm của quá khứ.
Anh tự hỏi liệu lý do khiến anh phản ứng nhanh nhạy trước những yêu cầu của cô có phải là vì anh luôn tưởng tượng mọi việc từ góc độ của cô hay không.
Chỉ có Holo sẽ mãi mãi trẻ trung; chỉ có Lawrence sẽ già đi theo năm tháng. Bất cứ khi nào anh hình dung ra cái ngày anh bỏ lại Holo trên thế giới này, anh lại thấy mình khao khát được chiều chuộng cô. Đôi khi, anh cảm thấy như thế là không bao giờ đủ.
Anh không thể bảo vệ cô mãi mãi. Họ đã thề trong hôn nhân là sẽ ở bên nhau "cho đến khi cái chết chia lìa đôi ta", và họ luôn biết rằng Lawrence sẽ là người ra đi trước.
Lawrence nở một nụ cười gượng gạo khi những khách hàng tụ tập quanh quầy pha chế bên ngoài quán trọ hú hét với họ. Người chủ quán trọ lặng lẽ bước tới trước anh để mở cửa cho anh và chuẩn bị sẵn một cái xô nhỏ cho họ phòng hờ.
Khi Lawrence mệt mỏi định đặt Holo xuống giường, cô tỉnh dậy.
Cô duỗi chân ra để trèo xuống và ngồi bịch xuống giường.
"Chuyện này bắt đầu thấy quen quen rồi đấy." Lawrence mỉm cười.
Holo cuộn mình lại và rên rỉ.
"Em cảm thấy ổn chứ?"
Khuôn mặt cô đã hồng hào hơn, nhưng khi anh hỏi cô để chắc chắn, cô gật đầu. Tất nhiên, anh không tin cô, vì cô không lớn tiếng tuyên bố mình đang xử lý tốt, nhưng cô làm nhiều hơn là chỉ gật đầu.
Cô đưa tay ra chộp lấy ống tay áo anh như một cử chỉ bảo anh ngồi cạnh cô.
"Anh đến đây, anh đến đây."
Holo trông trẻ hơn rất nhiều khi cô yếu đuối. Người ta thường nói rằng một người càng lớn tuổi thì càng trở nên trẻ con hơn. Anh ngồi bên phải cô, và cô tựa trán vào vai anh.
"Em xin lỗi, em không uống được nhiều rượu..."
Cô đang kể cho anh nghe mình gặp phải chuyện gì, điều đó có nghĩa là cô đang cảm thấy tốt hơn nhiều.
Lawrence quàng tay qua người Holo và nắm lấy tay cô bằng bàn tay trống còn lại của mình.
"Laud đã ghé qua giữa cuộc trò chuyện của chúng ta. Em cảm thấy cô đơn lắm, đúng không?" anh trêu cô, và cô siết chặt tay anh hơn. "Anh xin lỗi," anh nói, và hôn lên gốc tai cô.
Cô chăm sóc đuôi của mình bằng các loại dầu đắt tiền, mang lại cho nó mùi hương hoa cỏ ngọt ngào. Nhưng tai của cô lại có một sự ngọt ngào khác—chúng có mùi giống cô.
Tuy nhiên, anh đã kiềm chế bản thân, vì anh biết cô không thích khi anh ngửi cô quá nhiều, thì cô đột nhiên lên tiếng.
"Cô đơn có lẽ là một từ miêu tả thích hợp đấy."
"..."
Trong cơn kinh ngạc, một nụ cười dỗ dành phản xạ lướt qua khuôn mặt anh.
"Không, em đã thấy cô đơn. Và em xin lỗi vì không thể giữ được tửu lượng của mình."
Cô cọ phần gốc tai vào má anh.
Cho đến thời điểm đó, Lawrence không có gì để đáp lại sự ngượng ngùng của cô, nhưng suy nghĩ của anh cuối cùng cũng bắt kịp.
"...Ồ, phải rồi. Em định nói điều gì đó ngay khi Laud tiến đến chỗ chúng ta, phải không?"
Có phải cô đã nhận ra điều gì đó về Rahden? Bây giờ nghĩ lại, cô đã có vẻ buồn bã kể từ lúc đó. Anh nhẹ nhàng lắc tay cô, chờ đợi một câu trả lời, và đôi bàn tay nhỏ bé của cô cũng lắc lại.
"Tất cả những gì anh làm là suy nghĩ và suy nghĩ... và em nhận ra rằng anh là một tên ngốc."
"Hmm?"
Anh chỉ ậm ừ đáp lại, và cô cắm móng tay vào tay anh.
"Anh là một kẻ ngốc, bất chấp việc anh thông minh đến nhường nào. Thông minh đủ để làm em ngạc nhiên. Câu trả lời đã ở ngay trước mắt anh suốt thời gian qua." Giọng cô nghe như thể đang nói những câu nói bí ẩn. "Hoặc có lẽ em mới là kẻ ngốc," cô tiếp tục. "Sau tất cả, với chiếc mũi và đôi tai nhạy bén của em, em chưa bao giờ nhận ra điểm yếu của mình lại nằm ở đôi mắt."
Chủ đề này đã từng được nhắc đến ở Nyohhira. Lý do Holo luôn kém trong việc đọc và viết là vì thị lực của cô kém hơn cô tưởng. Khi cô nhìn qua kính đọc sách lần đầu tiên—lớp kính bóng loáng có thể phóng to chữ viết—cô đã bị sốc.
Vậy điều đó có ý nghĩa gì, xét trên một quy mô lớn hơn?
Những suy nghĩ từ từ cuộn trào trong đầu Lawrence, và cuối cùng anh trả lời, "...Anh đang nhìn nhận vấn đề với quá nhiều định kiến sao?"
Nghĩ một cách logic, hành động của Rahden không có nhiều ý nghĩa. Việc được chọn làm giám mục là một phép màu ngang ngửa với việc một hoàng tử yêu một cô gái nông dân, vậy mà ông lại muốn từ chối lời đề nghị đó. Và bất kể anh nhìn nhận vấn đề này theo cách nào, điều đó cũng sẽ đảm bảo một nền tảng vững chắc cho ngôi làng trong các thế hệ tương lai.
Nếu ông coi trọng ngôi làng trên hết thảy, thì Lawrence cảm thấy rằng ông chỉ cần trở thành một giám mục vì lợi ích lớn hơn, ngay cả khi điều đó gây bất tiện cho ông theo một cách nào đó.
Điều đó có nghĩa là những gì đang ngăn cản Rahden làm như vậy không dựa trên logic.
Khi nói đến các vấn đề về logic, về thương mại, thì Lawrence có rất nhiều ý kiến.
Nhưng anh không phải là đối thủ của Holo khi nói đến những vấn đề tình cảm, những vấn đề giải quyết sự tinh tế của con người.
"Em đã nghĩ về cái cây đại thụ mang hình dáng con người đó trong suốt thời gian qua."
Rahden không phải là một con gấu, không phải là một hòn đá, mà là một cái cây.
Ông, thực sự, rất giống một cái cây.
"Tại sao một cái cây bướng bỉnh như ông ấy lại không thừa nhận những lo lắng của những người xung quanh ông ấy?"
Đó là nơi những suy nghĩ của Holo bắt đầu. Và điều đó có nghĩa là, ít nhất, sự quan tâm của Sulto đối với Rahden là chân thành.
Và mặc dù họ đã tiếp cận vấn đề từ cùng một điểm xuất phát, Holo đã nhìn nó từ một góc độ hoàn toàn khác.
"Em... thực sự cảm thấy khó chịu vì chuyện này. Ông ấy không biết mình may mắn đến mức nào đâu."
Lawrence thở hổn hển khi nhận ra không phải vì anh không biết Holo cảm thấy thế nào...
...mà là vì anh cảm thấy tương tự như khi anh vượt qua một ranh giới mà anh không nên vượt.
"Ý em là...?"
Anh nhỏ giọng, không nói hết câu, và Holo mỉm cười khi cô nhắm mắt lại.
"Đúng vậy. Pasloe. Em đã sống ở đó một thời gian rất dài, phải không?" Giọng cô ngái ngủ, như thể cô đang kể lại một câu chuyện cũ. "Cho đến khi em bị đuổi đi, nhỉ."
Lawrence hít một hơi thật sâu và nín thở.
Mặc dù đối với anh, Pasloe là nơi anh và Holo gặp nhau, nhưng đối với Holo, đó là một ngôi làng nơi cô đã mất đi một thứ vô cùng quý giá đối với mình.
"Em rất quan tâm đến những người đó, vậy mà chính họ lại là những người đã đuổi em đi. Đối với em, em thấy thật vô lý khi cái cây to lớn này lại than vãn và rên rỉ về tất cả tình yêu và sự may mắn mà ông ấy có."
Mặc dù trong giọng điệu của cô có chút đùa cợt, nhưng anh biết cô có phần nghiêm túc.
Cái đuôi của cô, đặt phía sau anh, xù lên.
"Nhưng nỗi đau của ông ấy là thật. Ông ấy do dự, và điều đó làm ông ấy đau lòng. Ông ấy đã đặt cược mạng sống của mình để bảo vệ người dân của mình, và đổi lại họ lo lắng cho ông ấy từ tận đáy lòng—vậy tại sao? Em đã tự hỏi. Điều đó không có ý nghĩa gì cả. Và đó là lý do tại sao..." Cô ngồi dậy, nhấc mình khỏi Lawrence. "...Em đã đặt mình vào vị trí của ông ấy. Em đã tưởng tượng xem cái cây đó có thể cảm thấy thế nào."
"Rahden?"
Holo gật đầu, một nụ cười gượng gạo nở trên môi, như thể ai đó đã chạm vào chân cô sau khi nó bị tê.
"Rahden này hẳn nghĩ mình đang bị đuổi khỏi làng, đúng không?"
"Hmm? ...Cái gì? Bị đuổi?" Lawrence hỏi lại, không hoàn toàn hiểu cô có ý gì.
"Có lẽ... 'bị đuổi' không phải là từ chính xác. Nhưng nó cũng tương tự vậy."
Sự quan tâm của Sulto và những người khác là chân thành, và đôi tai thính của Holo hẳn đã có thể phân biệt được liệu họ có đang bí mật lên kế hoạch phế truất Rahden hay không.
Lawrence nhìn cô dò hỏi, và cô nở một nụ cười mệt mỏi.
"Nghĩ xem. Hãy nhớ lại cái hồ nuôi cá? Cái mà ông ấy đã dốc hết tâm sức để xây dựng? Tất cả những con cá đó đã chết."
"Nhưng... anh khá chắc chắn rằng dân làng thực sự biết ơn vì tất cả những gì ông ấy đã làm cho họ. Họ thậm chí còn tìm được công việc kinh doanh thịt nai vì họ không muốn gánh nặng ông ấy nữa, phải không?"
"Ừ. Chính xác. Và nếu em ở trong hoàn cảnh của ông ấy..." Holo hướng ánh mắt ra ngoài cửa sổ nhìn lên bầu trời đêm, sau đó quay lại nhìn Lawrence, mạnh mẽ áp mặt vào ngực anh như một cú húc đầu. "...Em sẽ thấy cô đơn lắm."
"Em... thấy vậy sao?"
Holo gật đầu, không buồn cho anh thấy khuôn mặt của cô.
"Những người ở Pasloe cũng vậy, đã sử dụng kiến thức và sức mạnh của con người để nghĩ ra những cách để trồng lúa mì của họ. Lúa mì của họ rất phong phú mà không cần sự giúp đỡ của em. Đáng ra em không nên bận tâm nếu ai đó nghĩ ra cách để có được những vụ mùa bội thu; sau tất cả, họ đã từng yêu cầu em làm điều đó cho họ mà. Em nên mừng cho họ và những vụ mùa của họ mới phải."
"..."
Lawrence có thể biết từ giọng nói của cô rằng cô đang chực khóc, và điều đó, đổi lại, khiến anh đau lòng.
Nhưng anh lại muốn khóc vì một lý do khác.
Đó là bởi vì một khi anh thấy cô muốn nói gì, anh cảm thấy sự thất vọng rõ ràng với sự bất cẩn của chính mình.
"Giống hệt như cái hồ của ông ấy vậy. Không có gì đáng ngạc nhiên nếu một trong những lý do của ông ấy nằm ở giấc mơ tái tạo lại quê hương mình. Nhưng em tin lý do lớn nhất khiến ông ấy làm điều đó là để lấp đầy bụng những người đang đói." Cô sụt sịt và tiếp tục, giọng cô như thể đang nghĩ về khoảng thời gian khi cô phục vụ Pasloe với tư cách là người bảo vệ nó dưới danh nghĩa Hiền giả Sói Holo. "Để mang lại nụ cười cho người dân của mình. Để mang lại cho gia đình mới của mình một mái nhà mới. Những gì ông ấy làm để đạt được điều đó lẽ ra không quan trọng. Ít nhất là về mặt logic."
Mặc dù đầu cô vẫn cúi gằm, Lawrence có thể biết rằng cô đang cười rõ ràng khi cô nói từ logic.
Cứ như thể cô đang tự cười nhạo mình vì đã quá ngốc nghếch khi cảm thấy tổn thương trước những gì đã xảy ra ở Pasloe.
Cô đã lạc lối trong dòng cát thời gian trong cuộc sống ở Pasloe; hơn thế nữa, cô đã bị coi là biểu tượng của một phong tục xấu còn sót lại từ những ngày xa xưa, và điều đó khiến cô tổn thương đến mức hình dạng con sói khổng lồ của cô gần như biến mất hoàn toàn.
Dù sao cô cũng muốn tìm đường về nhà, vì vậy cô có thể dễ dàng gây thêm rắc rối cho ngôi làng trên đường ra đi, nhưng cô đã không thể làm như vậy.
Bởi vì điều đó không logic.
Những sợi dây liên kết của nghĩa vụ và bổn phận không dễ dàng rũ bỏ như vậy.
"Cảm giác như có một người khác tồn tại bên trong em vậy. Cái cây đó cũng phải cảm thấy như thế. Ông ấy là một người đàn ông to lớn, và ông ấy có vẻ thông minh. Ông ấy chắc chắn phải hiểu những gì vị trưởng làng tóc trắng kia nói và cảm thấy. Tuy nhiên, ông ấy không lắng nghe trái tim mình... Hẳn là vậy rồi."
Không chỉ có Sulto, Baum và những người dân làng khác vừa ca ngợi vừa lo lắng cho Rahden, mà vị giám mục của Salonia và Elsa cũng vậy. Ngành kinh doanh thịt nai bắt đầu vì dân làng đã lo lắng rằng Rahden đang làm việc quá sức. Mọi người đều đang nghĩ về ông ấy.
Nhưng từ góc độ của ông ấy thì sao?
Ông đã xây dựng một cái hồ nuôi cá cho người dân trong làng của mình, nhưng lũ cá đã chết sạch, và bây giờ dân làng đã tìm được những công việc mà họ có thể tự mình hoàn thành.
Ông là người duy nhất nỗ lực vực dậy trại cá, vậy mà dân làng lại nằng nặc đòi ông rời xa làng một năm để trở thành giám mục và đừng lo lắng cho họ.
Và vì vậy sẽ không có gì lạ nếu Rahden nghe thấy điều này:
Trở thành một giám mục đi. Đó là mục đích duy nhất của ngài bây giờ.
Ý tưởng đó hẳn đã đè nặng lên ông, giống như cái cách mà bức màn đêm luôn không thể tránh khỏi.
"Và em tin rằng đầu gối của ông ấy đang có vấn đề. Chắc chắn ông ấy không thể tham gia vào việc săn nai."
"Cái gì?"
Lawrence thực sự ngạc nhiên khi nghe điều đó.
"Gì chứ, anh không chú ý sao?" Holo hỏi, ngẩng đầu lên khi cô lại sụt sịt. Anh lắc đầu, phơi bày sự ngốc nghếch của mình.
"Nhưng chẳng phải ông ấy đã vùng ra khi những dân làng khác cố giữ ông ấy lại sao?"
"Ông ấy chỉ trụ bằng chân trái mà thôi. Có lẽ vì thế mà ông ấy không cưỡi ngựa giỏi; việc lên xuống ngựa quá nguy hiểm với ông ấy."
Cô dùng tay lau khóe mắt.
Lawrence hình dung ra Rahden khi anh nhìn Holo, dù không hoàn toàn có ý định nhìn cô chăm chú như vậy. Ngay cả bây giờ, Rahden vẫn to lớn và mạnh mẽ; anh có thể dễ dàng tưởng tượng ông đã tràn trề sức mạnh như thế nào khi còn trẻ.
Ngay cả Lawrence cũng cảm thấy vô cùng kiệt sức khi cõng Holo đang say trên lưng, điều này khiến anh cảm thấy buồn và nhận ra mình đã già đi nhường nào.
Và vì vậy, đối với một người đã rèn luyện sự dẻo dai như vậy trong cơ thể mình suốt cả cuộc đời, đó hẳn là một cú sốc còn lớn hơn.
Khi đầu gối bị thương khiến ông không thể làm việc, ông không thể làm gì khác ngoài việc nhìn những con cá trong trại cá chết dần. Hoặc là do đầu gối của ông, hoặc quá trình khôi phục không diễn ra như kế hoạch. Việc nhìn dân làng dễ dàng thực hiện công việc săn bắn mà ông không thể tham gia sẽ chỉ khiến tâm trạng của ông tồi tệ hơn rất nhiều.
Bây giờ Lawrence mới nghĩ lại, Rahden trông thật thảm hại khi được yêu cầu ngồi vào ghế.
Lý do ông quá gắn bó với trại cá không phải là vì vùng biển quê hương ông.
Đó là bởi vì ông đang cố gắng một cách tuyệt vọng để giữ cho tất cả nước ông đã múc trong tay không bị tràn ra ngoài.
Ông đang cố gắng duy trì ký ức của mình về một khoảng thời gian khi ông là trái tim của ngôi làng, khi ông là cái cây đại thụ đã nâng đỡ bầu trời phía trên họ.
Tuy nhiên giờ đây, đầu gối của ông, thứ trước đây đã nâng đỡ những niềm tin của ông, lại đang chống lại ông.
Cơ thể ông sẽ chỉ suy tàn thêm. Mục đích của ông trong làng sẽ giảm đi.
Rahden đang bị dòng nước xiết của thời gian nuốt chửng và đang chết đuối.
"Thật đáng sợ khi đánh mất vị trí của mình trên thế giới."
Holo hiểu rõ nỗi sợ hãi khi bị bỏ lại một mình trong thế giới rộng lớn này. Cô biết sẽ khắc nghiệt như thế nào khi không còn được cần đến nữa.
Lawrence nhìn cô—thực sự nhìn cô.
Anh tưởng cô đã khóc, nhưng cô đang cười.
"Em biết em đã gọi anh là kẻ ngốc vì anh cứ đi vòng vòng với logic của mình." Holo lại sụt sịt, một nụ cười vẫn nở trên khuôn mặt cô. "Nhưng lẽ ra em nên nhận ra ngay từ lúc ở trong nhà thờ, nhưng em đã không thể. Đó là bởi vì..." Cô ngừng lại, một giọng điệu bẽn lẽn lấn át nụ cười của cô trước khi tiếp tục, "...anh đã cho em một mái nhà. Sự chăm sóc và tình yêu của anh đã khiến em quên đi tất cả những điều buồn bã mà thế giới này mang lại. Bởi vì nơi ở của chúng ta tràn ngập những dòng suối ấm áp, và đó là một nơi rất thoải mái."
Nụ cười vô tư của cô chỉ khiến trái tim Lawrence càng thêm đau nhói.
Anh thực sự cảm thấy như thể mình đã làm rất nhiều điều cho Holo.
Nhưng mọi việc tốt trên đời cũng không thể vĩnh viễn xoa dịu nỗi cô đơn của cô.
Anh ôm chặt thân hình nhỏ bé của cô vào lòng, một biểu hiện vật chất cho mong muốn thời gian sẽ dừng lại với họ.
Và những gì thốt ra khỏi miệng anh tiếp theo... là những lời nhận xét đầy ác ý.
"Và anh cho em ăn, cho em rượu, nên em thực sự không có gì nhiều để phàn nàn đâu."
"Đồ ngốc! Em đã rất thành thật v—"
"Và đó là lý do tại sao..."
Lawrence bằng cách nào đó đã kiềm chế được sự bất an trong lồng ngực mình, Holo vẫn trong vòng tay anh khi cô bắt đầu hét vào mặt anh.
Anh từ từ buông cô ra và véo mũi cô, một nụ cười trêu chọc, chân thành trên khuôn mặt anh.
"Đó là lý do tại sao nếu anh chấp nhận trọn vẹn tất cả cảm xúc của em, anh sẽ muốn trao cho em đúng nghĩa là mọi thứ, đến đồng xu cuối cùng mà anh có. Sau đó em sẽ không còn tiền để uống rượu vào năm sau nữa, phải không?"
Cảm xúc của Holo giống như một thùng rượu lớn. Họ cần phải lần lượt dùng những khẩu phần nhỏ; nếu không, họ sẽ nuông chiều bản thân quá mức, trở nên rất say xỉn và ngã cắm đầu vào thùng.
"Cô Elsa vừa mới dạy em tầm quan trọng của tài chính gia đình mà, phải không?"
Khi anh nhắc đến tên cô ấy, thật buồn cười khi khuôn mặt Holo lại nhăn lại thành một cái cau mày.
"Và dù sao thì mấy ngày nay em cũng đã uống quá nhiều rồi."
Cuối cùng Holo cũng bĩu môi.
"Em chưa tiêu một đồng nào cả."
Cô nói đúng—vì họ là những người đã giải quyết vấn đề tài chính của thị trấn, nên dù họ đến quán rượu nào, họ cũng sẽ được đãi một thứ đồ uống nào đó. Tuy nhiên, cô dường như nhận ra rằng mình đã uống quá nhiều; cô gác chân lên giường, ôm đầu gối và tức giận quay đi.
Lawrence mỉm cười với một tiếng thở dài và nói, "Và anh thấy cô đơn khi em ra ngoài uống rượu đó."
Miệng Holo hơi há ra vì ngạc nhiên khi cô nhìn chằm chằm vào Lawrence.
Sau đó, khi vẻ mặt cứng đờ của cô giãn ra, khóe miệng cô cong lên, như thể cô đang cố gắng kìm nén sự vui sướng của mình lại.
"...Anh là đồ ngốc."
"Và?"
"Nhìn anh xem, đây là lý do tại sao anh—"
"—sẽ luôn là một cậu bé dễ thương?"
Anh biết cô sẽ gọi anh là đồ ngốc, nên anh quyết định hoàn thành câu nói của cô thay cô.
Cô bực mình vì bị đánh phủ đầu, nhưng cô vẫn mỉm cười thích thú.
"Chuyện này không liên quan đến logic," Lawrence nói.
Anh đang nói về bản thân mình, nhưng cũng là về Rahden.
Sulto là người có lý trí ở đây.
Nhưng Rahden là người mà cảm xúc không thể chỉ giải quyết bằng logic.
"Đúng vậy. Vấn đề nằm ở sự lo lắng của ông ấy. Cái cây đó không phải là một cái cây thực sự."
Nó cũng giống như Holo—mặc dù hình dạng thực sự của cô là một con sói khổng lồ, một con sói đủ lớn để nuốt chửng một người đàn ông, nhưng điều đó không có nghĩa là trái tim cô sắt đá và hoang dã.
Bỏ mặc hai bên không hiểu ý nhau sẽ giống như việc bỏ mặc Holo một mình ở Pasloe vậy.
"Vậy chúng ta nên làm gì?" Lawrence hỏi, gần như tự hỏi chính mình, và Holo đưa tay lên nhẹ nhàng chạm vào má anh.
"Anh đã thấy chúng ta nên làm gì ở nhà tắm của chúng ta ở Nyohhira rồi mà."
"Anh thấy rồi sao? À, ý em là... khi tước vị được truyền lại giữa các quý tộc nhỉ."
Cô đang nói về thời điểm hai thế hệ quý tộc đến nhà tắm của họ. Anh luôn nghĩ rằng những kẻ bám lấy quyền lực của mình và từ chối buông bỏ luôn là một rắc rối.
Nhưng hiểu rõ hơn bây giờ rằng họ chỉ đơn giản là sợ mất đi vị trí của mình trên thế giới, anh cảm thấy như mình có thể đối xử với họ một cách vô cùng tử tế.
"Anh thường bắt đầu bằng cách ca ngợi tất cả những thành tựu của họ trong cuộc sống, phải không? Khi nói đến nghi lễ truyền lại quyền đứng đầu."
"Hãy cảm ơn họ, nhưng hãy cẩn thận đừng cho quá nhiều. Cũng có lý."
Mặc dù đã vào nghề muộn, anh vẫn đang học được điều gì đó mới. Anh đã không suy nghĩ quá sâu về điều đó khi họ ở Nyohhira.
"Vậy Rahden đã đạt được những gì?"
Không cần phải nói rằng ông đã xây dựng một cái hồ ở một sườn núi trống, nuôi vô số cá và làm no bụng những người đang đói.
Nhưng nếu họ muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình, thì họ sẽ phải nhắc đến cách ông đã đoàn kết toàn bộ ngôi làng và làm mọi cách để khôi phục lại trại cá. Sẽ thật tuyệt nếu có vô hạn tài nguyên và sức lao động, nhưng Sulto và những người dân làng khác cuối cùng đã tìm thấy sự ổn định từ công việc trong ngành săn nai.
Từ bỏ tất cả những điều đó và quay trở lại ngành kinh doanh trại cá không ổn định là quá rủi ro.
Họ cần phải bày tỏ lời cảm ơn của mình bằng một thứ gì đó khác.
Một thứ gì đó có thể làm sáng tỏ tất cả thời gian, tiền bạc và sức lực mà ông đã dành cho họ cho đến nay.
"Cái cây đó sẽ tìm kiếm đá quý dưới biển ở quê hương mình, phải không? Myuri thích những câu chuyện của những người hát rong có kết thúc tương tự như vậy sao?"
"Ý em là những câu chuyện đại loại như, Và ngọc quý thực sự đối với dân làng chính là những con cá, và tất cả họ đều sống hạnh phúc mãi mãi về sau? Những câu chuyện đó á?"
"...Hmm, nghe có vẻ hơi rẻ tiền khi anh nói theo cách đó ấy."
Lawrence ậm ừ, sau đó chợt nhớ ra rằng những đoạn trích từ Kinh Thánh đã được dịch đang nằm trên bàn của họ.
"Ồ, đúng rồi, chẳng phải Rahden đã nói ông ấy thuộc lòng một đoạn Kinh Thánh và đào một cái hồ trên núi vì điều đó sao?"
"Đoạn trích về con cá á? Sẽ tốt hơn nếu nó nói về thịt đó," Holo nói, hoàn toàn dựa trên sở thích cá nhân, nhưng Lawrence đưa tay ra lấy tập tài liệu. Đây không phải là toàn bộ Kinh Thánh, chỉ là một bộ sưu tập những câu chuyện phổ biến nhất từ đó. Đây là kết quả của tất cả những gì Col đã làm—học tập mỗi ngày, chịu đựng cơn buồn ngủ khi ăn hành tây sống.
Khi lật qua, Lawrence tìm thấy rất nhiều câu chuyện dụ ngôn mà anh biết, và câu chuyện về con cá cũng được bao gồm trong đó. Tương tự như vậy, anh tìm thấy những đoạn khác về thức ăn; chúng chắc hẳn rất phổ biến.
Với những đoạn văn được viết bằng ngôn ngữ bản địa, Lawrence ngạc nhiên về mức độ dễ hiểu của chúng. Anh gần như cảm thấy mình giống một tên ngốc khi cố gắng học cách đọc chữ viết của nhà thờ.
Khi hết trang này đến trang khác trôi qua, trái tim anh bị thu hút bởi một câu cụ thể đập vào mắt anh.
"À, đúng rồi, viên ngọc của biển này là—Mm? Có chuyện gì vậy?"
Holo tò mò nhìn anh.
Với ánh mắt của Lawrence hướng vào tập sách trên tay, Holo nheo mắt nhìn vào dòng chữ trên trang giấy, và cái đuôi của cô xù lên không lâu sau đó.
"Ồ hô! Em hiểu rồi!"
"Em nghĩ sao?" Lawrence hỏi cô, và Holo ngạc nhiên là rất vui vì điều đó.
"Em cũng vừa nghĩ đến điều tương tự. Gần như là em đã đợi anh tìm ra câu đó vậy."
"Hả? Ý em là sao?"
Chắc hẳn đã có một sự thấu hiểu ngầm giữa họ.
Holo bĩu môi một cách kiêu ngạo, rồi nở một nụ cười, một chiếc răng nanh thò ra khỏi môi khi cô nói, "San hô. Cây của biển, đúng không?"
"Ừ. Vậy thì sao?"
"Và hiện giờ dân làng săn gì?"
"Đó sẽ là... Ồ!"
Nai.
Chúng là cư dân của khu rừng, những chiếc gạc giống như cành cây mọc trên đầu chúng.
"Và những gì anh nói khi anh bán cái bột hôi hám đó nữa."
Bột lưu huỳnh họ lấy từ Nyohhira là thứ mà người ta có thể hòa tan trong nước nóng và trải nghiệm cảm giác tắm suối nước nóng.
Đó là những gì Lawrence đã nói với dân làng khi anh bán bột cho họ trong lúc họ đang hân hoan vì lễ hội sắp tới.
Họ có thể đào một cái hố trên mặt đất và tạo ra suối nước nóng của riêng họ.
"Dân làng chỉ sống sót cho đến nay là nhờ cái cây đó. Không quan trọng là cái nhìn sâu sắc của ai đã quyết định họ định cư vào việc săn nai, bởi vì không ai khác ngoài cái cây đó là người đã làm no bụng họ trước đây."
"Có nghĩa là chúng ta có thể thả một ít sừng nai xuống hồ, đúng không?"
Cái hồ ông xây chắc chắn đã từng chứa đầy đá quý. Với những thứ thực sự có thể chạm vào và có được, không giống như san hô, thứ rốt cuộc đã trở nên không thể có được ở quê hương người đàn ông đó.
"Và đây sẽ là sự kết thúc, phải không?" Holo hỏi, chỉ vào Kinh Thánh.
Được mô tả bên trong là một cảnh nổi tiếng về việc Chúa ban đức tin cho các linh mục tương lai.
"Sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu Rahden không trở thành một giám mục. Nhưng anh nghĩ điều này có thể hiệu quả đấy."
Mặc dù Rahden và những người dân làng còn lại hiện tại không hoàn toàn đồng tình với nhau, nhưng đó không phải là điều mà cả hai thực sự mong muốn. Họ nên sát cánh cùng nhau bước vào một tương lai rực rỡ.
Họ sẽ có thể dành nhiều ngày vui vẻ trong tương lai, giống như Lawrence và Holo đã cùng nhau tìm thấy Nyohhira.
"Dân làng có thể thể hiện sự trân trọng của họ đối với mọi thứ mà Rahden đã làm, và nó sẽ giúp ông ấy hiểu rằng họ hy vọng ông ấy sẽ đảm nhận một vai trò mới."
"Và quan trọng nhất," Holo cười toe toét, không còn dấu vết của nước mắt trong mắt cô, "sẽ không lâu nữa chúng ta lại có thể thưởng thức món cá hồi ngon tuyệt."
Lawrence bật cười trước sự phàm ăn của cô. "Điều đó cũng đúng," anh trả lời.
~~~
Mặc dù Lawrence và Holo đã đi đến kết luận của riêng mình, nhưng đó cũng chỉ là một phỏng đoán.
Nếu mọi việc tiến triển mà không có sự xác nhận của họ về việc Rahden thực sự cảm thấy thế nào, thì mọi thứ sẽ càng trở nên tồi tệ hơn.
Việc đầu tiên vào sáng hôm sau, họ đến nhà thờ và nói chuyện với Elsa. Vì mọi thứ không đi đến đâu trong tình hình hiện tại, Elsa đồng ý đi theo kế hoạch của họ.
Và thế là, họ quyết định xem Rahden thực sự cảm thấy thế nào, nhưng Holo đã ngăn Lawrence lại ngay bên ngoài phòng của người đàn ông đó.
"Em tin là em nên vào một mình."
"Cái gì?"
"Đây là một vấn đề nhạy cảm đối với đàn ông. Một quý cô ngọt ngào như em sẽ giúp ông ấy mở lòng dễ dàng hơn nhiều," cô nói, gần như ngạc nhiên vì phải giải thích điều này cho anh.
Tuy nhiên Lawrence vẫn không bị thuyết phục; Elsa đưa tay ra từ phía sau anh để vỗ vai anh.
"Cứ để cô ấy lo," cô nói.
"..."
Nếu Elsa đã nói vậy, thì anh không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tuân theo.
Holo có vẻ không vui lắm về điều đó, nhưng cô vẫn hậm hực để lấy lại bình tĩnh, rồi bước vào phòng của Rahden.
"Tôi hy vọng cô ấy sẽ ổn... Tôi hy vọng cô ấy không làm ông ấy tức giận," Lawrence bày tỏ sự bất an của mình, và Elsa rụt vai lại.
"Cô Holo khá giỏi trong những vấn đề như thế này," cô nói. "Nhưng tôi không hiểu tại sao cô ấy lúc nào cũng hành động trụy lạc như vậy."
Họ không phải đợi quá lâu.
Holo xuất hiện không lâu sau đó, một nụ cười tự mãn trên khuôn mặt.
"Tiếp theo, đến trưởng làng."
Mặc dù mọi chuyện có vẻ suôn sẻ, Lawrence vẫn tự hỏi Rahden đang làm gì. Anh định lẻn vào xem, nhưng Holo đã đưa tay lên véo má anh.
"Nhìn anh xem, thật là thiếu tinh ý mà."
Cô đang bảo anh để người đàn ông đó yên. Lawrence xoa má khi anh tự nhắc nhở mình rằng Holo quả thực là sói thông thái—sự thoái hóa gần đây của cô gần như khiến anh quên mất điều đó.
Khi họ đề xuất ý tưởng của mình với Sulto, Lawrence, Elsa và giám mục Salonia đều có mặt.
Khi Sulto nghe ý tưởng, mắt ông ta mở to vì ngạc nhiên, và ông ta quên cả thở; ông ta gần như trắng bệch.
Lý do đầu tiên là để phản ứng với sự thiếu hiểu biết của chính ông ta khi không nhận ra rằng Rahden ngày càng yếu đi.
Lý do thứ hai là ông ta thậm chí còn chưa từng cân nhắc rằng việc ông ta thúc giục Rahden nghỉ ngơi sẽ bị coi là ông ta đang cố gắng phế truất ông ấy trong mắt người kia.
Không phải vì Sulto đặc biệt chậm chạp, mà chỉ đơn giản là vì ông ta tôn trọng Rahden bằng cả thể xác và tâm hồn. Những dân làng khác cũng vậy; họ rất đau buồn vì tình cảm biết ơn của họ đã bị hiểu sai trong suốt thời gian qua.
Khi Lawrence giải thích cho họ biết họ có thể tổ chức loại sự kiện nào để thể hiện lòng biết ơn đối với Rahden, tất cả họ đều trông giống như những người sống trên sa mạc lần đầu tiên nhìn thấy mưa sau mười năm.
Cuối cùng khi đã hiểu được cảm giác của Rahden, vấn đề trở thành giám mục đã bị gạt sang một bên, và họ ưu tiên cho người đàn ông đó thấy họ biết ơn ông ấy đến nhường nào.
Ý tưởng thực hiện điều này tại hồ nước của làng đã được đưa ra, nhưng xét thấy mọi người sẽ đến và đi từ đó, họ quyết định việc đặt sừng nai vào trong đó không tốt lắm cho khả năng phục hồi của trại cá, và Holo nhấn mạnh rằng nó phải được thực hiện một cách sôi động, thú vị hơn, vì vậy họ quyết định tổ chức tại Salonia.
Cũng giống như Laud, có rất nhiều người trong thị trấn nhớ đến cơn đói đã được xua tan nhờ Rahden. Khi Lawrence đưa ra ý tưởng với Laud, thương nhân này đã sẵn sàng tình nguyện tìm kiếm những người lao động để đào hố.
Lawrence sau đó đã lén lút đưa vào sự xảo quyệt của một thương nhân và ý kiến của anh với tư cách là một chủ nhà tắm.
"Anh muốn chúng tôi biến một cái hồ dã chiến thành một suối nước nóng?"
Laud, tất nhiên, ngay lập tức nhận ra rằng Lawrence đang cố bán lưu huỳnh cho họ, và ông đảm bảo truyền đạt điều đó qua ánh mắt của mình.
"Đầu gối của Rahden đang yếu đi, anh hiểu chứ. Tại sao ông nghĩ các phương pháp chữa bệnh bằng suối nước nóng lại phổ biến với người cao tuổi đến vậy?"
Khi Lawrence hỏi, Laud chớp mắt.
"Bởi vì nó có tác dụng, phải không? Tôi biết những tin đồn—nó giống như một phương thuốc chữa bách bệnh vậy."
"Thực ra thì đó là nói hơi quá, nhưng tôi tin là ông sẽ thấy những kết quả rõ rệt thôi."
Thương nhân là một nhóm người tò mò. Laud nghiêng người về phía trước, tỏ vẻ thích thú.
"Cơ thể nổi trong nước, phải không?" Lawrence nói tiếp. "Trong suối nước nóng, ông thậm chí có thể di chuyển như thể mình vẫn còn trẻ đó."
Laud gật đầu, tỏ vẻ thích thú.
"Và," Lawrence tiếp tục, "tôi rất muốn ngài Rahden trải nghiệm điều này, nhưng—"
Laud hắng giọng. "Nếu chúng ta phải đào một cái hố, biến nó thành suối nước nóng, và tổ chức sự kiện này trong lễ hội, thì chúng ta sẽ cần thiết lập nền tảng trong tất cả các lĩnh vực liên quan. Vì anh khuyên tôi mua một lượng lớn lưu huỳnh của anh, vậy anh nghĩ sao về mức hoa hồng này?"
Ông lấy ra một bàn tính từ thắt lưng của mình và nhanh chóng gạt các hạt ở một vị trí cụ thể.
Với một nụ cười, Lawrence với tay tới và di chuyển một vài hạt.
"Hmm... Rất tốt. Tôi cho là mình sẽ gọi một số đồ uống để dùng chung với bồn tắm dã chiến của chúng ta."
Lawrence và Laud bắt tay thỏa thuận. Khi Lawrence quay sang nhìn Holo, người đang theo dõi cuộc trao đổi, cô chỉ nhún vai bực tức với anh.
Baum nhảy lên ngựa để trở về làng và lấy sừng nai trông giống như san hô. Trong khi ở đó, cậu bé cũng sẽ bảo những người dân làng còn lại đến thị trấn.
Và vì Lawrence là chủ một nhà tắm, anh bận rộn với công việc, chỉ đạo công nhân xếp gạch vào cái hố mà họ đã đào bên bờ sông. Holo ngồi cách đó không xa trên một tấm chăn, nhâm nhi đồ uống trong khi quan sát và thỉnh thoảng viết vài dòng vào nhật ký.
Rahden xuất hiện vào ngày thứ hai, và có một cảnh dân làng cố gắng ngăn ông giúp đỡ. Ông chắc hẳn là kiểu người luôn giữ cho mình bận rộn bằng cách này hay cách khác để được an tâm. Lawrence giao cho ông công việc nện đáy hố để làm cứng mặt đất. Bằng cách đó, đầu gối của ông được bảo vệ, và Rahden quả thực đã làm một công việc tuyệt vời.
Ngày cuối cùng của phiên chợ cũng đã đến, và mọi người bắt đầu chuyển sự chú ý sang lễ hội.
Giám mục Salonia phụ trách sự kiện này, và thế là bắt đầu một lễ hội nhỏ để tôn vinh tất cả những người đã làm việc chăm chỉ để mang những thức ăn khác ngoài món cá trích đáng ghét lên bàn ăn của tất cả mọi người không chỉ ở Salonia, mà còn ở các cộng đồng xung quanh.
Họ đổ nước sông đun sôi vào các hố, và họ lấp đầy chúng bằng bột lưu huỳnh của Lawrence.
Đầu tiên, bọn trẻ trong làng biểu diễn một vở kịch nhỏ kể về câu chuyện của Rahden, về chuyến hành trình của ông từ Rahdelli đến nơi ngôi làng hiện tại, phía trước cái hồ. Baum phụ trách phần diễn xuất cho đến thời điểm Rahden đến Salonia.
Sau đó, câu chuyện chuyển sang Rahden hiện tại.
Khuôn mặt Rahden đỏ bừng khi ông ngồi im lặng—ông có lẽ đang xấu hổ—và Sulto tiến đến quỳ trước ông.
"Ngài Rahden, cái này là dành cho ngài."
Thứ ông trao cho ông là một cái móc dường như được kết hợp với biểu tượng của Giáo hội.
"Xin ngài hãy vớt lên một viên ngọc từ hồ nước này bằng đức tin của mình."
Rahden trông như thể ông sắp hét lên bất cứ lúc nào, nhưng ông trông như thế này là vì ông đang căng mặt ra để cố kìm nước mắt. Ông cầm chiếc móc làm từ biểu tượng của Giáo hội trong tay và đứng lên.
Chuyển động của ông rất mạnh mẽ; thật khó để tưởng tượng rằng đầu gối của ông không ở trong trạng thái tốt nhất.
Nhưng trước khi bước đi, ông quay sang Sulto và nói, "Đầu gối của tôi không ổn. Tôi có thể mượn bờ vai của ông không?"
Sulto gật đầu, mắt mở to, và dân làng lao về phía trước, đề nghị làm chỗ dựa cho ông.
Sau đó, với sự vây quanh của toàn bộ dân làng, Rahden ném chiếc móc xuống nước. Ngày xưa, ông đã từng làm việc này, mỗi ngày, từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn tại vùng biển ở quê hương ông, và không một lần nào trong vòng ba năm ông tìm thấy bất kỳ nhánh san hô nào.
Nhưng có rất nhiều sừng nai chìm trong nước.
Đây là minh chứng cho sinh kế của người dân, chính là điều mà Rahden đã đến để bảo vệ vào cuối hành trình dài của mình.
"Hãy nhìn xem! Một phép lạ thiêng liêng!"
Giám mục của Salonia nói với giọng vang rền, phù hợp với địa vị của mình, và những chiếc sừng được đưa lên bờ hồ. Tiếng hò reo và vỗ tay đinh tai nhức óc, và chuông nhà thờ cũng vang lên. Vượt qua sự xúc động, Rahden quay sang Sulto để bày tỏ lòng biết ơn.
Nhưng vẫn chưa đến lúc cho việc đó.
"Ngài Rahden."
Người xuất hiện là Elsa—đại diện cho một tôi tớ mẫu mực của Chúa, người có nét mặt cứng đờ không hề lay chuyển ngay cả trong không khí lễ hội.
"Đây ạ."
Cô kính cẩn trao cho ông tuyển tập các đoạn trích từ Kinh Thánh, do Col dịch, mở ra ở một trang cụ thể.
"Cái này là..."
Baum xuất hiện trước mặt cái cây mang hình dáng con người đang bối rối.
Có một thứ gì đó kỳ lạ đang đặt trên vai cậu bé.
"Ngài Rahden! Nhận lấy cái này nữa!"
Cậu bé thực tế đã nhét vào tay Rahden một tấm lưới. Đó là một tấm lưới đánh cá, tấm lưới ông đã dùng ở trại cá.
Với cuốn Kinh Thánh trong một tay, và tấm lưới đánh cá ở tay kia, Rahden trông rất bối rối.
Sau đó, giám mục Salonia xuất hiện với vẻ mặt giả vờ như không biết gì và nói, "Rahden, tín đồ ngoan đạo của Chúa. Ngài phán với ông theo Kinh Thánh."
Rahden hít vào, chờ đợi đoạn văn tiếp theo.
"Hãy gác lại tấm lưới dùng để bắt cá của ông. Giờ đây, ông phải trở thành một ngư dân thu phục con người... Ý ông thấy thế nào?"
Câu đó là những gì Chúa đã nói với một vị thánh huyền thoại truyền bá giáo lý của Chúa.
Cách diễn đạt trong Kinh Thánh mang tính chất ra lệnh hơn, nhưng vị giám mục không phải đang ra lệnh cho Rahden, và nó phù hợp với cách nói của vị giám mục.
Khi vị giám mục nói điều đó, Rahden mỉm cười kèm theo một tiếng ho, cúi gập người, và ép cuốn Kinh Thánh cùng tấm lưới đánh cá vào ngực mình.
"Tôi sẽ làm... như ngài truyền dạy."
Sulto và những người dân làng khác, những người đã nín thở theo dõi, bùng nổ trong tiếng reo hò.
Tất cả họ đều nhấc bổng người đàn ông to lớn lên không trung.
Elsa, người biết chuyện gì đang xảy ra, lấy cuốn Kinh Thánh từ tay ông.
Rahden che mắt lại khi mỉm cười, và dân làng tung ông lên không trung.
"Bây giờ, hãy vào làn nước nổi tiếng của làng suối nước nóng, Nyohhira!"
Rahden bị ném xuống nước tạo ra một tiếng tõm lớn. Bây giờ không ai có thể nói liệu có ai khác đang khóc hay không.
Những người biểu diễn sau đó bắt đầu chơi nhạc cụ của họ, và thức ăn và đồ uống được mang ra.
Lawrence cảm thấy mắt mình rơm rớm, một phản ứng không phù hợp với tuổi của anh, khi anh quan sát dân làng cười thích thú—một số người thì đắm mình trong nước, trong khi những người khác thì rụt rè nhúng ngón chân vào—thì có người gõ nhẹ vào tay anh.
"Anh yêu, không có đủ thức ăn hoặc đồ uống mất rồi."
Holo, người đã ngậm sẵn những xiên thịt cừu trong miệng, đưa tay phải ra về phía anh.
Đôi vai Lawrence chùng xuống và nắm lấy tay cô.
Cô đứng đoan trang và đúng mực như một nàng công chúa, còn anh đứng cạnh cô, nắm chặt tay cô.
Đây là vị trí của cô—một nơi quý giá nhất để cô nghỉ ngơi giữa dòng chảy của thời gian.
Và từ vị trí yêu thích của mình, cô ngước nhìn Lawrence và nói, "Sao anh không trở thành một ngư dân để có thể kéo lên thật nhiều tiền xu nhỉ? Vì em?"
Lawrence mở miệng định nói, nhưng anh quyết định thôi. Anh mỉm cười, và với một tiếng thở dài, anh trả lời, "Tất nhiên rồi. Như ý em."
Holo cười tươi, để lộ cả răng nanh.
Bầu không khí lễ hội đã đến sớm với Salonia.
Có lẽ trong sử sách có ghi lại rằng trong đám đông có một cựu thương nhân lang thang, người mà đơn giản là không phải là đối thủ của cô vợ trẻ của mình.