Hiện ra trong cơn mưa phùn lất phất là một con ngõ vắng vẻ. Ngay sát đầu ngõ có một người phụ nữ mặc váy dài sặc sỡ nằm dài trên mặt đất.
Đúng lúc đấy, một người bộ hành đi ngang qua ghé mắt nhìn kỹ rồi thình lình hét toáng lên. Tiếng hét làm con ngựa giật mình, người xà ích vội ghìm cương, khiến cỗ xe ngựa chậm lại.
Nhờ ánh đèn đường, Klein thấy được người phụ nữ nằm sõng soài ở đầu ngõ, mặt tái mét, bụng bị rạch sâu, nội tạng bên trong dường như bị móc sạch. Xung quanh cô, vũng máu đỏ thẫm sánh đặc đang từ từ lan rộng.
Này… Là một cựu Kẻ Gác Đêm đạt chuẩn, anh lập tức liên tưởng đến hàng loạt vụ án có thủ pháp gây án tương tự. Những vụ như thế thường dính dáng đến tục tôn thờ Ác Ma!
Hễ nhắc đến tục tôn thờ Ác Ma thì không thể không nhắc đến một tổ chức cổ xưa, xuất hiện sớm nhất vào Kỷ Thứ Tư - Bái Huyết Giáo!
Theo tài liệu ghi chép, đây là một liên minh lỏng lẻo được hình thành nhờ tục tôn thờ Ác Ma, trong đó có một số gia tộc được gọi là gia tộc ác quỷ, chẳng hạn như gia tộc Nors, Andrerad và Beria. Chúng độc lập và không lệ thuộc nhau. Những kẻ này không ngừng truyền bá tín ngưỡng ác ma khắp nơi, gây ra rất nhiều vụ án đẫm máu. Bà Orianna, kế toán của tiểu đội Kẻ Gác Đêm Tingen chính là một trong những nạn nhân, nhưng may mắn được cứu thoát.
Tất nhiên, không phải vụ án tương tự nào cũng do chúng gây ra. Không thiếu những kẻ cho rằng chuyện đó hay ho nên bắt chước.
“Rất giống tác phong của Bái Huyết Giáo.” Cô vệ sĩ thì thầm, bóng dáng nhanh chóng trở nên trong suốt và mất tăm, chằng màng Klein có nghe hiểu hay không.
Lúc này, cỗ xe ngựa đã đi qua hiện trường vụ án. Thấy tuần cảnh chạy tới, Klein dập tắt ý định xuống xe xem xét, coi mình như một thị dân bình thường tình cờ đi ngang qua.
Đúng vậy, thị dân Moriarty…
Bái Huyết Giáo nắm giữ Con Đường “Tội Phạm” hay còn được gọi là Con Đường “Ác Ma”. Nghe đồn từ Danh Sách 7 trở đi, Kẻ Phi Phàm tương ứng sẽ dần dần ác ma hóa, nhưng chỉ lộ rõ trong một số tình huống hoặc trường hợp nhất định...
Danh Sách 9 “Tội Phạm” sở hữu cơ thể cường tráng, trực giác nhạy bén cùng đủ loại năng lực phạm tội nhưng lương tri chưa mất hẳn… Danh Sách 8 có tên cổ là “Kẻ Máu Lạnh”, giờ được gọi là “Thiên Thần Gãy Cánh”, mang nghĩa từ đó đánh mất lương tri, hoàn toàn đắm chìm trong dục vọng xấu xa, cơ thể càng lúc càng khác người và sử dụng được một số phép thuật của ác ma… Danh Sách 7 “Sát Nhân Hàng Loạt” nắm giữ nhiều kiến thức và nghi thức tôn thờ Ác Ma, thích dùng những vụ giết người hàng loạt đặc biệt để lấy lòng Ác Ma… còn Danh Sách cao hơn nữa thì mình chịu…
Kiến thức về Bái Huyết Giáo và Con Đường “Ác Ma” lần lượt hiện lên trong đầu Klein. Ngoài trời, mưa có vẻ nặng hạt hơn đôi chút. Những giọt mưa đọng lại trên cửa kính xe rồi trượt xuống, khiến cả thế giới như bị nhấn chìm trong sự yên tĩnh và mờ ảo.
“Mình nghĩ ngợi nhiều thế làm gì, mấy chuyện này kiểu gì chả được bàn giao cho đội ngũ Kẻ Phi Phàm, có lẽ là Thế Phạt Giả, cũng có thể là Kẻ Gác Đêm, đâu cần mình phải lo.” Klein lắc đầu, bật cười rồi lầu bầu trong bụng.
Khi về đến số 15 phố Minsk, anh đã quên sạch vụ án lúc nãy. Anh ghé sang nhà hàng xóm Sammer, nhờ bà Stelyn chuyển lời cho Mary đến lấy bằng chứng vào chiều mai, rồi quay về rửa mặt, đọc báo để cập nhật tình hình hiện tại và tin tức ở Backlund.
Hôm sau, tức sáng thứ Bảy, Klein thong thả ăn sáng rồi mới ra ngoài lấy ảnh đã rửa. Anh chọn tấm ảnh nhìn rõ mặt Doragu Gale và Erica Taylor nhất, cũng là tấm lột tả được ngọn lửa tình hừng hực trong họ nhất.
Anh cất kỹ tấm ảnh, tranh thủ lúc bà Mary chưa tới để tạt qua đồn cảnh sát Rice một chuyến. Việc lấy lại 10 Bảng tiền bảo lãnh diễn ra thuận lợi, dù anh có chút lúng túng khi chạm mặt với Trung sĩ Fassic chân chính.
Sau khi rút nốt 500 Bảng tiền mặt trong tài khoản, buổi sáng bận rộn của Klein cuối cùng cũng kết thúc. Vào thời điểm chuẩn bị ăn trưa, anh giao luôn 600 Bảng còn lại cho cô vệ sĩ. Hiện trong ví anh chỉ còn 146 Bảng 8 Soli 5 Penny. Đây là toàn bộ tài sản mà anh có thể sử dụng.
Ngoài tiểu thư "Công Lý" ra thì không còn ai nợ mình nữa… Với tâm trạng khoan khoái, Klein chiên một miếng bít tết sườn, rưới thêm nước sốt tiêu đen.
Đúng lúc anh vui vẻ thưởng thức miếng bít tết chín vừa, chuông cửa bỗng vang lên, tiếng đinh đang vọng đi vọng lại.
“Bà Mary? Sao sớm thế nhỉ?” Klein khó hiểu đặt dao nĩa xuống, bước đến cửa. Anh khựng lại hai giây, hình ảnh vị khách bên ngoài tự động hiện lên trong tâm trí.
Đó là một quý ông cổ lỗ mặc áo khoác xám nhạt, đội mũ chóp nửa cao bằng lụa, cầm batoong đen nạm vàng. Ông ta có đôi mắt xanh sắc sảo, tóc mai đã điểm hoa râm, hai đường pháp lệnh hằn sâu trên mặt khiến cơ thịt trông như chảy xệ.
“Xin hỏi ông tìm ai?” Klein mở cửa hỏi.
Quý ông cổ lỗ kia cất giọng đặc sệt vùng Gian Hải, “Anh là thám tử Sherlock Moriarty hả?”
“Ông có việc muốn ủy thác à?” Klein gật đầu, nhường đường mời ông ta vào phòng khách.
Anh do dự hai giây, cuối cùng lên tiếng hỏi, “Ông dùng cà phê hay hồng trà?”
“Một cốc nước nóng, cảm ơn.” Quý ông cổ lỗ nọ đã bỏ mũ ra, ngồi xuống ghế.
Tuyệt vời, cái này thì đơn giản... Có khi mình phải tính chuyện thuê một trợ lý chuyên lo chuyện pha trà rót nước với quét dọn mới được... Klein nghĩ vẩn vơ, rồi quay vào bếp tráng cốc.
Anh đặt cốc nước nóng xuống trước mặt ông lão, đi tới ghế sofa đơn, ngồi xuống và đan hai tay vào nhau, “Tôi nên xưng hô với ông thế nào?”
“Miller Carter.” Ông lão trả lời ngắn gọn.
“Ông Carter, ông muốn ủy thác việc gì?” Klein không khách sáo, tiến thẳng vào vấn đề. Vừa nói, anh vừa âm thầm bật linh nhãn, quan sát quý ông ngồi đối diện.
Ông ta khá khỏe mạnh, nhưng hào quang ở khớp chân trái hơi có vấn đề, chắc là viêm khớp... Cảm xúc chủ đạo là màu xanh lam đại diện cho sự điềm tĩnh, suy tư pha chút lo âu... Klein chỉ liếc sơ qua đã nắm được tình hình.
Miller Carter bưng cốc sứ trắng lên, ngón tay miết nhẹ lớp ngoài, nói, “Chuyện là thế này, tôi có mua một căn nhà ở phố Williams... À, tôi đến từ hạt Gian Hải, vì chuyện làm ăn nên tương lai sẽ định cư ở Backlund.”
Phố Williams... ở đâu nhỉ? Mới tới Backlund chưa đầy một tháng, ra đường toàn phải tra bản đồ hoặc dựa vào trực giác, Klein cố giữ vẻ mặt điềm đạm và đáng tin cậy.
Miller Carter nhìn anh, nhận được ánh mắt ra hiệu bèn tiếp tục, “Nghe đâu căn nhà đó vốn thuộc về một Tử tước phá sản, chuyện từ hai, ba mươi năm trước rồi, qua tay mấy đời chủ mới đến lượt tôi mua lại. Tôi định cải tạo vài chỗ cho hiện đại hơn, ai ngờ phát hiện dưới tầng hầm có một cánh cửa bí mật dẫn đến một công trình rất lớn dưới lòng đất. Vì lo bên trong có nguy hiểm nên tôi đã tạm dừng thi công và không cho phép thợ thuyền hay người hầu liều lĩnh vào khám phá. Tôi muốn nhờ anh giúp tôi xác nhận xem tình hình trong khu công trình ngầm đó thế nào.”
Công trình dưới lòng đất… Di tích cổ à? Hay là kho báu bí mật? Klein ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi, “Sao ông không báo cảnh sát? Nguồn lực của cảnh sát gấp mấy chục, mấy trăm lần một thám tử tư như tôi, cuộc điều tra chắc chắn sẽ hiệu quả hơn, đảm bảo hơn mà.”
Miller Carter day day sống mũi, “Tôi không muốn quá nhiều người biết được chuyện này, nhất là bên chính quyền. Nếu xác định bên trong không có gì nguy hiểm, tôi định xem nó như một phần của căn nhà rồi quy hoạch lại công năng.
“Tôi biết việc này khá rủi ro với anh, nên tôi sẵn sàng trả 50 Bảng, nhưng anh chỉ được dẫn theo tối đa ba trợ lý thôi. Tùy vào kết quả cụ thể thì tôi sẽ bồi dưỡng thêm.”
50 Bảng, hậu hĩnh thật... Nếu mình là thám tử bình thường thì chỗ này bằng thu nhập của hai, ba tháng rồi... Ông ta mới đến Backlund, không quen biết thám tử khác, chỉ có thể tìm người qua báo nên mới tới chỗ mình... Klein cân nhắc vài giây rồi đáp, “Để tôi suy nghĩ đã.”
Đột nhiên, anh nở nụ cười ái ngại, chỉ tay ra đằng sau và nói, “Tôi xin phép đi vệ sinh một lát.”
Miller Carter hơi gật đầu, nhấp một ngụm nước nóng.
Klein bước vào nhà vệ sinh, đóng cửa lại, rồi đứng trước gương và lấy ra một đồng xu đồng ½ Penny. Vì cô vệ sĩ đang ở đây nên anh không thể bước lên phía trên màn sương xám để kiểm tra, đành phải dựa vào khả năng bói toán của bản thân.
“Mình nên nhận vụ này.
“Mình nên nhận vụ này.
“...”
Klein lẩm nhẩm bảy lần, đoạn búng đồng xu lên, ánh mắt trở nên sâu thẳm khi nhìn đồng xu xoay vòng rồi rơi xuống.
Pặc! Đồng xu rơi vào lòng bàn tay, mặt quốc vương nằm ngửa, đây là khẳng định.
Klein khẽ gật đầu, nói với không khí, “Trực giác của cô thì sao?”
Bóng dáng cô vệ sĩ nhanh chóng hiện lên trong gương. Cô vẫn giữ vẻ vô cảm, đáp, “Có nguy hiểm nhưng không đáng kể.”
Tốt thôi… Klein cất đồng xu, rửa tay rồi bước ra khỏi nhà vệ sinh, quay lại phòng khách. Anh nhìn Miller Carter, cười bảo, “Tôi nhận vụ này.”
Sau khi ký hợp đồng và nhận khoản cọc trước 10 Bảng từ Miller Carter, Klein không vội đến phố Williams ngay mà hẹn ông ta lúc bốn giờ chiều nay. Miller hoàn toàn thông cảm cho điều này. Ông tin rằng thám tử Sherlock Moriarty luôn đơn phương độc mã chắc chắn phải tìm thêm người hỗ trợ mới dám bắt tay vào điều tra.
Đợi quý ông cổ lỗ đi khuất, Klein lập tức quay lại bàn ăn, cắt miếng bít tết nguội ngắt rồi nhét vào miệng.
Thật tình, ông ta không ăn trưa hay sao mà lại gõ cửa đúng cái giờ này... Miễn cưỡng lấp đầy cái bụng đói, Klein thu dọn bát đĩa với tâm trạng vừa buồn vừa tiếc.
Hai giờ chiều, bà Mary đến đúng hẹn. Mắt bà đỏ hoe, sưng húp, sắc mặt trở nên tối sầm, khiến Stelyn Sammer đi cùng phải im lặng.
Klein đưa phong bì chứa bức ảnh được chọn kỹ cho bà, “Thưa bà, mời bà xem qua.”
Mary do dự hai giây, hít một hơi thật sâu rồi mới cầm lấy phong bì, rút ảnh ra xem xét kỹ lưỡng.
“... Tốt, tốt lắm. Anh quả là thám tử làm việc hiệu quả và có trách nhiệm nhất mà tôi từng gặp. Tôi rất vinh hạnh được giới thiệu anh với các thành viên của câu lạc bộ Quelaag… Đây là 7 Bảng còn lại, anh xứng đáng với số tiền này.” Mary rút ví từ trong túi xách da, đếm ra một tờ 5 Bảng và hai tờ 1 Bảng. Rồi, không đợi Klein đáp lời, bà nhét bức ảnh vào phong bì, cất vào túi xách, bật dậy bỏ đi.
Đôi bốt da không dây của bà nện xuống sàn, tạo ra tiếng cộp, cộp, cộp liên hồi. Stelyn Sammer phải chạy hết sức mới theo được.
Lúc mở cửa ra, Mary bỗng vấp chân, suýt thì ngã xuống, may mà Stelyn đỡ kịp. Sau sự cố này, Mary bước chậm hẳn, tựa hồ trở nên bình tâm hơn.
Bà ơi, bà quên lấy lại cái máy ảnh xách tay rồi… Để lát nữa mình đưa cho bà Sammer, nhờ bà ấy chuyển lại vậy… Klein im lặng nhìn cảnh tượng đó, thoáng lắc đầu, không nói năng gì.
Anh trở lại tầng hai đánh một giấc ngon lành rồi thức dậy khi tiếng chuông báo giờ của nhà thờ gần đó vọng tới.
Klein đã sớm xem qua bản đồ, xác định phố Williams nằm ở ranh giới giữa quận Tây và quận Hoàng Hậu, một vị trí đáng sống thuộc khu vực trung tâm Backlund.
Một căn nhà tươm tất ở quận Tây hoặc quận Hillston có giá khoảng 2.500 Bảng. Nhà Miller Carter lại nằm sát quận Hoàng Hậu, vốn là tài sản của một Tử tước, diện tích chắc chắn không nhỏ, mua đứt cả căn ít nhất cũng phải 3.500 Bảng, thậm chí lên đến 5.000 Bảng. Đủ để mua một vật phẩm thần kỳ khá tốt rồi… Ông ta đến gặp mình nhưng không mang theo quản gia hay người hầu. Là do ông ta mới đến Backlund, mọi thứ còn chưa đâu ra đâu chăng? Klein khoác chiếc áo khoác dài đính hai hàng khuy, đội mũ ngay ngắn, cầm batoong bước ra ngoài phố Minsk.
Lúc này, đèn đường bằng khí đốt vẫn chưa được thắp sáng, con phố trở nên âm u hơn cả chập tối, nhưng không khí vẫn tạm chấp nhận được, không khó thở như ở mấy khu ở phía Đông.
Klein bắt xe ngựa thuê đến phố Williams, thấy một hầu nam đang đứng đợi bên ngoài căn nhà số 8.
Người hầu nam mặc gi-lê đỏ, quần dài màu sáng cung kính chào khách, “Chào buổi chiều, ngài là thám tử Moriarty phải không ạ?”
“Phải, tôi có hẹn với ông Carter.” Klein gật nhẹ, theo chân người hầu nam bước vào tòa dinh thự có bãi cỏ phía trước và vườn hoa bên hông.
Căn nhà có hai tầng, tầng một khá bừa bộn, ngổn ngang vật liệu xây dựng, thợ không ngừng đi ra đi vào để tiến hành sửa sang.
Miller Carter không đội mũ, tay che mũi, bước tới đón, “Thành thật xin lỗi, ở đây bừa bộn bẩn thỉu quá. Nhưng tôi muốn mọi thứ phải hoàn hảo trước khi gia đình tôi đến Backlund, nên đành giục họ làm việc liên tục.”
Nói xong, ông ta quay sang người hầu nam và dặn, “Cậu tiếp tục trông chừng họ nhé.”
Chẳng trách lúc đó ông ta không mang theo người hầu, hóa ra là cho làm giám sát hết rồi… Klein cười bảo, “Tôi có quen vài bác sĩ, họ nói với tôi rằng nhà mới sửa xong không nên vào ở ngay, ít nhất phải để thông khí trong ba tháng, nếu không thì người già và trẻ nhỏ, những người có sức đề kháng yếu sẽ dễ mắc bệnh.”
“Thật à?” Miller vừa dẫn Klein xuống tầng hầm vừa ngờ vực hỏi lại.
“Dù chưa kiểm chứng bao giờ nhưng tôi chọn tin vào chuyên gia. Nghe đâu nó bắt nguồn từ lời Đại đế Roselle truyền dạy.” Klein thuận mồm bịa chuyện.
Miller gật gù rồi quay sang nhìn cửa ra vào, cau mày thắc mắc, “Thám tử, anh không mang theo trợ thủ à? Trong công trình đó có thể ẩn giấu nguy hiểm không nhỏ.”
Tôi có trợ thủ đấy chứ, chẳng qua ông không nhìn thấy thôi... Klein mỉa thầm, nghiêm nghị nói, “Đây là lần thăm dò đầu tiên, tôi sẽ tiến vào một cách cẩn thận, có biến là rút ngay.”
“Tôi có đủ kinh nghiệm trong phương diện này, biết cách để bản thân không rơi vào tình thế nguy hiểm, chứ đi với trợ thủ chưa đủ ăn ý thì vướng lắm, hành động sẽ kém linh hoạt và thiếu dứt khoát hơn.”
Miller ngẩn ra rồi nói, “Anh quả là chuyên nghiệp.”
Bốc phét chuyên nghiệp… Klein thầm bổ sung.
Miller không còn nghi ngờ gì nữa, dẫn thám tử Moriarty băng qua phòng khách lộn xộn, dọc theo cầu thang xuống tầng hầm rộng rãi.
Ở đây không có đường ống dẫn khí đốt, trên tường có gắn bốn giá nến bằng kim loại, ánh nến vàng vọt chập chờn.
Bước trên nền đá lát, Klein không kìm được tiếng cảm thán trong lòng: Đúng là nhà quý tộc có khác, đến cả tầng hầm cũng được ‘hoàn thiện kỹ càng’, rộng ngang phòng khách hiện tại của mình…
Lúc này, Miller chỉ tay về phía trước, “Đằng kia có một cánh cửa bí mật, được phát hiện bởi thợ trong lúc sửa nhà.”
Klein nheo mắt nhìn theo, nương ánh nến lờ mờ, thấy trong góc có một cánh cửa đá màu trắng xám. Đáng lẽ ra nó phải hòa lẫn với bức tường thành một khối, nhưng giờ lại lộ hẳn ra.
“Còn lại giao cho anh nhé. Cẩn thận đấy.” Quý ông cổ lỗ Miller đưa Klein một chiếc đèn bão đã thắp sáng, đồng thời dặn dò thêm một câu.
“Đã thông gió trước chưa?” Klein cẩn thận dò hỏi.
Miller khẽ lắc đầu, “Bên trong không đến nỗi bí khí cho lắm, nhưng tôi không cho thợ vào quá sâu.”
“Được rồi.” Klein kiểm tra đồ đạc tùy thân rồi đeo găng tay đen vào. Trong ánh mắt của Miller, anh xách đèn bão, kẹp batoong, bước đi với tốc độ vừa phải, lại gần cánh cửa đá rồi đẩy nó ra.
Tiếng kẽo kẹt có phần nặng nề vang lên. Nhờ ánh sáng hắt vào từ bên này, anh nhìn thấy một hành lang lát đá màu sẫm. Hai bên và cuối hành lang có vài cánh cửa gỗ mục nát nhưng vẫn còn sử dụng được.
Không quá cũ… Thế nhưng phong cách phù phiếm của mấy cánh cửa này chẳng ăn nhập gì với vẻ nặng nề u tối của sàn đá, hay là do gia tộc Tử tước trước kia thay đổi? Klein lặng lẽ mở linh nhãn, nắm chặt batoong, xách theo đèn bão, bước từng bước về phía trước.
Ánh sáng xua tan bóng tối. Vì mấy người thợ được Miller thuê chưa từng tiến sâu, anh có thể nhìn vào dãy phòng thông qua những cánh cửa mở toang khi đi ngang qua chúng. Bên trong khá trống trải, chỉ có vài chiếc ghế dài và bàn có kiểu dáng tương đồng với cửa.
Không có ánh sáng linh tính nào lóe lên… Klein quan sát nhanh rồi tiếp tục đi thẳng một mạch đến trước cánh cửa đá đôi màu đen ở phía cuối. Anh duỗi bàn tay phải đeo găng ra, vừa kẹp batoong vừa chậm rãi dùng sức đẩy cửa.
Tiếng ma sát ghê răng vang vọng, cửa đá dần hé ra một khe hở. Trong mắt Klein bỗng lóe lên chút ánh sáng linh tính, phản chiếu vô số màu sắc hào quang đan xen, chồng chéo lên nhau. Tim anh thót lại, dồn sức đẩy mạnh cửa rồi lùi lại vài bước.
Khe hở nhanh chóng mở rộng. Một sinh vật đen sì, trơn trượt bất ngờ rơi xuống từ trên cao.
Đó là một con rắn dài với cái đầu hình tam giác và mình đầy hoa văn đỏ! Nó dựng nửa thân trên dậy, thè lưỡi, nhìn chằm chằm Klein bằng đôi mắt màu nâu vàng lạnh lẽo.
Lộp bộp, lộp bộp, lộp bộp, từng con rắn thi nhau rơi xuống từ trên cửa, chất đống ngay lối vào.
Klein nhìn qua đám rắn đó, thấy bên trong là một đại sảnh rộng lớn. Giữa sảnh có nhiều loại rắn đủ màu sắc, không biết cơ man nào mà kể, đang quấn lấy nhau thành một cục, tạo nên cái ổ rắn khổng lồ rộng đến mười mấy mét vuông, cảm giác trơn trượt buồn nôn thốc thẳng vào mặt.
Da đầu Klein tê rần, không khỏi lùi thêm hai bước, thậm chí còn muốn quay đi chỗ khác, không dám nhìn thẳng.
Dù là đàn ông, anh vẫn rất sợ rắn, sợ nhất trần đời là đằng khác.
Điều này bắt nguồn từ một chấn thương tâm lý. Hồi còn bé, vào cái giờ đáng lẽ nên đắp chăn đi ngủ thì anh lại thích lén lút mở cửa phòng ra, dòm qua khe hở để xem trộm phim cùng bố mẹ. Xui thay, có lần bố mẹ anh đã chọn trúng phim thảm họa về rắn, trong đó có cảnh phá dỡ tòa nhà rồi đào được cả ổ rắn khổng lồ. Cảnh tượng đàn rắn nhúc nha nhúc nhích đến giờ vẫn còn in hằn trong đầu anh.
Dùng “Bùa Ngủ Say” có tác dụng với bấy nhiêu rắn không nhỉ? Klein cố nuốt nước bọt, nói với không khí, “Cô có cách nào không?”
Bóng dáng cô vệ sĩ mặc váy dài Gothic đen nhanh chóng hiện ra bên cạnh anh, môi mím chặt, chẳng nói chẳng rằng.
Klein nhìn cô, cô nhìn Klein, không ai nói năng gì. Đến khi vài con rắn bắt đầu chậm rãi bò ra ngoài, Klein đành hắng giọng, lặp lại lần nữa, “Cô có cách nào không?”
Cô vệ sĩ không trả lời, bay lên không, hành lang bắt đầu nổi gió lạnh.
Vù!
Tiếng gió rít lên, thổi vào đại sảnh, nhiệt độ ở đây nhanh chóng giảm mạnh, dần lạnh ngang ngoài trời.
Vù!
Đàn rắn lít nha lít nhít giữa đại sảnh lập tức tản ra, bò tứ tung tìm chỗ ấm áp, thích hợp để sống. Hai ba phút sau, một lớp băng mỏng hình thành trên bề mặt đại sảnh và hành lang, đàn rắn không biết đã chui rúc vào đâu.
Vù!
Tiếng gió hãy chưa dứt, Klein thì run lập cập và nói, “Tạm, tạm ổn rồi.”
Cơn gió rét dữ dội lặng dần nhưng cái lạnh thấu xương vẫn còn y nguyên. Bóng cô vệ sĩ biến mất giữa không trung.
Klein đưa tay phải kẹp batoong lên che mũi và miệng, hắt hơi một cái, rồi giơ cao đèn bão, thận trọng bước qua cửa đá, tiến vào đại sảnh rộng lớn.
Phong cách ở đây giống hệt hành lang bên ngoài, đều lát đá phiến đen sẫm và có tám trụ tròn tiệp màu đứng sừng sững. Những thanh kim loại rủ xuống từ mái vòm cao vút, dưới mỗi thanh là một đế nến được chạm khắc thành hình các loài vật khác nhau.
Đế nến lộn ngược… Với tư cách là một sinh viên khoa Lịch sử, một người miễn cưỡng có thể coi là tinh anh trong lĩnh vực này, Klein đã đưa ra phán đoán sơ bộ dựa vào cách bố trí độc đáo kia, “Kiến trúc Kỷ Thứ Tư?”
Giới sử học trên khắp Lục địa Bắc đều công nhận Kỷ Thứ Tư bị bao phủ bởi một lớp sương mù dày đặc, khiến người ta không thể nhìn rõ diện mạo thật sự. Ghi chép về thời kỳ này có quá nhiều chỗ thiếu sót và mơ hồ. Lăng mộ, cổ thành hay văn bản khai quật được thì lại quá ít ỏi, không đủ để đối chiếu xác minh. Nhưng không phải là không có ai nghiên cứu. Nói quá ít tức là vẫn có vài di tích và tư liệu.
Klein nguyên bản là một người cuồng lịch sử Kỷ Thứ Tư, từng đọc qua vô số luận văn và sách vở, nên đến giờ anh vẫn còn nhớ được kha khá nội dung.
Dù là Đế quốc Solomon, Vương triều Tudor hay Đế quốc Trunsoest thì phong cách kiến trúc đều sàn sàn như nhau, đặc trưng là đi ngược lẽ thường, lộn xộn bất đối xứng và chuộng màu đen. Trong đó, tiêu biểu nhất chính là đế nến rủ xuống từ trần nhà và hoa văn như vết rìu chém trên bức tường đen.
Chính vì thế, khi Klein giơ đèn bão lên và thấy được những thanh kim loại tròn rủ xuống từ mái vòm cùng những đế nến gắn dưới đáy, anh lập tức xác định công trình ngầm này thuộc về Kỷ Thứ Tư, thuộc về thời đại xa xưa bị bao phủ bởi màn sương mù dày đặc, khiến biết bao nhà sử học và khảo cổ học phải tiếc nuối.
“Một số bài luận văn từng chỉ ra rằng số lượng đế nến sẽ thay đổi tùy theo từng công trình kiến trúc. Mặc dù ba đại đế quốc kia đều tôn sùng vẻ đẹp bất đối xứng, nhưng cũng có các quy định nghiêm ngặt và chi tiết ở từng khía cạnh… Trái ba phải hai là quy cách cao nhất mà dân thường được hưởng, điều này được phán đoán dựa trên bố cục kiến trúc và những ngôi nhà còn sót lại…” Klein giơ cao đèn bão, vừa bước chậm rãi vừa đếm số đế nến hai bên.
Đại sảnh rộng hơn anh tưởng. Anh phải đi ít nhất một trăm mét mới thấy bục cao hơn mặt đất nửa mét ở phía trước cùng bức tường dày đánh dấu điểm cuối cùng.
“Bên trái có bốn mươi mốt đế nến lộn ngược, bên phải có bốn mươi, thế… thế này thì hơi quá rồi, chỗ này thuộc về tầng lớp nào nhỉ? Đại quý tộc à? Chà, gia tộc Antigonus, gia tộc Zaratul đều là quý tộc Kỷ Thứ Tư… Họ cũng là những gia tộc phi phàm mạnh mẽ và đáng sợ, các đại quý tộc chắc cũng chẳng kém cạnh…” Klein tiếp tục đi về phía trước, nhìn thấy bậc thang bên hông bục cao nửa mét, cùng những vết tích hằn sâu như dao đẽo rìu chặt trên các viên gạch đá đen.
Đây thực sự là di tích từ Kỷ Thứ Tư? Những suy nghĩ thoáng qua đầu Klein. Nhờ thị lực tốt và ánh đèn bão, anh phát hiện trên bục cao nửa mét có hai chiếc ghế sắt đen khổng lồ, cổ xưa, hướng về phía dưới.
Tận hai chiếc!
Hai chiếc? Sao lại là hai chiếc nhỉ? Theo bố cục, ghế ngồi ở đây phải thuộc về người có địa vị cao nhất, quyền lực lớn nhất, thế mà lại có tận hai chiếc? Chẳng lẽ là hai vị đại quý tộc ngang hàng? Song Bá tước, song Công tước hay song Hoàng tử? Klein cảm thấy kiến thức lịch sử của mình bắt đầu "không đủ để dùng". Anh nhớ rõ nhiều luận văn từng đề cập tới việc nội bộ ba đế quốc lớn Solomon, Tudor và Trunsoest đều có sự phân chia đẳng cấp cực kỳ nghiêm ngặt, trật tự rõ ràng, không thể vượt qua. Xét theo lý thuyết này thì không thể tồn tại hai thủ lĩnh ngồi ngang hàng trong cùng một thế lực được.
“Kỳ lạ thật...” Klein lầm bầm, như thể nói cho cô vệ sĩ nghe.
“Lạ chỗ nào?”
Đột nhiên, một giọng nói nhẹ nhàng và vô định vang lên phía từ sau. Trong đại sảnh cổ kính tối tăm, rộng lớn và tĩnh mịch, âm thanh đó rợn người vô cùng. Klein giật giật khóe miệng, thuật lại các đặc điểm kiến trúc mà anh quan sát được cùng kiến thức lịch sử tương ứng và những điểm nghi vấn cho đối phương nghe, rồi kết thúc bằng câu, “Ở đây rất thoáng khí, biết đâu còn có lối vào khác.”
Cô vệ sĩ nửa khuất trong bóng tối lẳng lặng nghe hết câu chuyện, đoạn nhìn Klein chằm chằm, “Sao anh biết nhiều thế?”
Vì tôi là sinh viên khoa Sử chứ sao… Klein thầm bật lại trong bụng rồi cười đáp, “Nếu không chọn làm thám tử thì có khi tôi đã trở thành một nhà sử học trẻ tuổi đầy tận tụy rồi.”
Cô vệ sĩ không đáp lời cũng không lại biến mất, mà chủ động bay thẳng lên bục. Klein xách đèn bão bám theo sau, phát hiện cái bục thấp này lớn đến bất ngờ, chiều ngang gần bốn mươi mét, dọc tầm mười mét.
“Phong cách kiến trúc đồ sộ và hùng vĩ cũng là một trong những đặc điểm của Kỷ Thứ Tư.” Anh thuận miệng nói, cẩn thận bước đến trước hai chiếc ghế khổng lồ sắt đen, giơ đèn bão lên soi.
“Hình như là cho người khổng lồ cao ba, bốn mét ngồi thì phải… Trên lưng ghế có hoa văn giống huy hiệu, bên này là một chiếc vương miện đen… bên kia là một bàn tay nắm quyền trượng… không biết tượng trưng cho cái gì…” Klein lẩm bẩm, không hy vọng cô vệ sĩ đáp lời.
Thế nhưng quý cô lơ lửng trên không lại bất ngờ lên tiếng, “Đây là huy hiệu của gia tộc Tudor.”
“Hả?” Klein ngạc nhiên nhìn sang, thấy cô vệ sĩ đang nói đến bàn tay nắm quyền trượng kia.
Gia tộc Tudor? Đây là di tích của Vương triều Tudor Kỷ thứ Tư? Là cung điện của thành viên hoàng tộc nào à?
Klein hơi nhíu mày và hỏi, “Cô có nhận ra huy hiệu còn lại không?” Được đặt ngang hàng với thành viên gia tộc Tudor cơ đấy!
Cô vệ sĩ im lặng lắc đầu.
Thấy thế, Klein đành tạm gác chuyện nghiên cứu lại, chuyển chủ đề, “Sau khi gia tộc Tudor và gia tộc Trunsoest lập nên đế quốc riêng, cả hai đều giữ nguyên phong cách bắt nguồn từ Đế quốc Solomon, chẳng hạn như đế nến lộn ngược, vết chém rìu chặt, vân vân. Điều này trái với lẽ thường. Nếu tôi là hoàng đế, dù phải kế thừa bao nhiêu thứ từ đời trước thì tôi cũng sẽ thay đổi vài điều để khẳng định cá tính riêng của mình. Phải chăng nó ám chỉ ba đế quốc có mối liên hệ bí mật và bất biến nào đó?”
Anh đoán gia tộc Solomon, Tudor và Trunsoest đều nắm giữ Con Đường “Hắc Hoàng Đế”, hay còn được gọi là “Luật Sư”, và phong cách tương đồng là điều cần thiết cho việc “nhập vai”!
Cô vệ sĩ im lặng vài giây rồi thốt lên, “Chỉ có hoàng đế mới được gọi là hoàng đế.”
Đang xác nhận suy đoán của mình đấy à? Klein không đặt thêm câu hỏi, xách đèn bão đi quanh hai chiếc ghế sắt đen khổng lồ một vòng, nhưng không thấy gì mới.
“Chúng ta đi tiếp về phía trước xem sao.” Klein đề nghị.
Trước khi anh dứt lời, cô vệ sĩ đã lướt về phía cuối bục, cái lạnh âm u buốt giá xung quanh vẫn không hề thay đổi.
Klein đi thêm vài mét, mượn ánh đèn bão để quan sát bức tường cuối sảnh, nơi có bảy cánh cửa đá đen cao lớn, nặng trịch. Chúng xếp thành hàng ngang, bên trái hai cửa, bên phải bốn cửa, giữa một cửa, hoàn toàn phù hợp tôn chỉ theo đuổi tính bất đối xứng của Kỷ Thứ Tư. Klein chuyển batoong sang tay cầm đèn, tùy tiện tung đồng xu lên rồi lẩm bẩm, “Nên bắt đầu từ bên trái.”
Keng! Đồng Penny xoay tít rồi rơi xuống lòng bàn tay, mặt người nằm ngửa.
“Đi bên trái nhé.” Klein dẫn đầu.
Cô vệ sĩ lặng lẽ theo sau, mãi đến khi tới gần cánh cửa ngoài cùng bên trái mới cất giọng như vọng từ nơi xa, “Đi bên phải cũng thế thôi.”
Nghĩa là bói hay không bói cũng chẳng khác gì nhau... Klein bĩu môi, nhấc đèn bão lên soi những ký hiệu và hoa văn trên cửa. Nền đen thẫm điểm xuyết những đốm sáng lấp lánh, bao quanh một vòng tròn đỏ thẫm bị che khuất một nửa.
Hở... Đồng tử Klein thình lình thu nhỏ. Đây là Huy hiệu Thần thánh Đêm Đen! Là biểu tượng của Nữ Thần Đêm Đen! Vào Kỷ Thứ Tư, Giáo hội Nữ Thần đã ủng hộ Vương triều Tudor?
Anh trầm ngâm đặt tay lên cửa đá.
Két…. Tiếng ma sát nặng nề vang lên, cánh cửa đá đen từ từ mở về phía sau.
Ánh đèn bão rọi vào, dần dần phác họa khung cảnh bên trong cho Klein thấy. Đầu tiên là một khoảng không gian rộng vài mét vuông được lát đá đen sẫm, kế đó là một bệ cao gần một mét…
Klein thận trọng nhích lại gần, giơ đèn bão lên để chiếu sáng vật thể đặt trên bệ.
Vài giây sau, ánh sáng màu lửa phác họa hình dáng một bức tượng khổng lồ cao tới bốn năm mét, gần như choán hết cuối phòng.
Đó là một người phụ nữ có gương mặt mơ hồ nhưng xinh đẹp lạ thường. Bà nằm nghiêng trên bệ, tay phải chống đầu, bận một bộ váy đen cổ điển đơn giản nhưng nhiều lớp. Phía sau đầu có một vòng tròn được tạo thành từ nhiều đường kẻ tỏa ra.
Trên váy của người phụ nữ này lấp lánh những điểm sáng nhỏ xíu, đó là vô số mảnh đá quý trong suốt, rực rỡ. Thoạt nhìn, Klein cứ ngỡ mình đang ngắm nhìn màn đêm, nhìn sao trời. Nhờ sự tương phản đó, vòng tròn sau đầu bà giống hệt một vầng trăng tròn.
Chuyện này… Tư duy của Klein như bị đóng băng, không thể vận hành. Vậy mà, ở sâu trong đầu, một phỏng đoán đang dâng trào dữ dội, chực chờ thoát ra.
“Nữ Thần Đêm Đen?” Giọng cô vệ sĩ thoáng chút nghi hoặc hiếm thấy.
Dù xét về ý nghĩa tượng trưng hay hình thái thực tế thì thứ này đều có vẻ giống tượng Nữ Thần! Phỏng đoán kia cuối cùng cũng thành hình, không ngừng dội đi dội lại trong đầu anh.
Anh nhớ mình từng hỏi đội trưởng Dunn Smith về sự khác biệt giữa Tà thần và Chính thần. Một trong những đáp án là Tà thần thường có hình tượng gần giống với sinh vật có trí tuệ, còn Chính thần chỉ dùng Huy hiệu Thần thánh được tạo ra từ các biểu tượng trừu tượng. Vậy mà hôm nay, ngay lúc này, trong công trình ngầm cổ xưa và quái dị, anh lại tận mắt chứng kiến một bức tượng có thể là Nữ Thần Đêm Đen, một bức tượng hình người hoàn chỉnh!
Điều này có ý nghĩa gì, chỉ mới nghĩ đến đó thôi cũng khiến Klein không rét mà run.
Chẳng lẽ Nữ Thần từng là Tà thần? Không... Cũng có thể là một Tà thần khác cùng thuộc lĩnh vực Đêm Đen chăng... Nhưng Huy hiệu Thần thánh Đêm Đen ngoài cửa có khác gì hiện tại đâu... Hay là, việc sở hữu hình tượng sinh vật có trí tuệ vốn không phải tiêu chuẩn để phân định Chính thần và Tà thần? Xét cho cùng thì cấp bậc của đội trưởng cũng không cao, những gì ông biết chưa chắc đã chính xác.
Không loại trừ khả năng người của gia tộc Tudor cố tình báng bổ Nữ Thần! Ừm, biết đâu họ muốn nương theo chuyện này để bố trí nghi thức tà ác nào đó!
Hàng loạt suy nghĩ vụt qua đầu Klein, khiến anh vừa hoang mang, bất an và căng thẳng, lại vừa cảm thấy nơi này toát lên một vẻ kỳ quặc khó tả thành lời.
“Chúng ta sang mấy cửa khác xem.” Klein nhìn quanh một vòng, không có phát hiện mới, bèn hít sâu một hơi, chủ động đề nghị.
Không biết sáu cánh cửa còn lại tương ứng với những gì, liệu có tà ác và quái gở như thế này không... Anh nghiêm túc nghĩ.
Cô vệ sĩ chậm rãi gật đầu.
Ra khỏi phòng, Klein cẩn thận chuyển cả batoong và đèn bão sang một tay, tay trái để trống, phòng khi có biến còn kịp thò ngay vào túi áo bên đó để lấy đồ. Trong túi có bùa chú, [Còi Đồng Của Azik] cùng vài lá bài Tarot. Ngoại trừ [Con Mắt Đen Kịt], đặc tính còn sót lại của Rosago, được cất riêng thì đây là tất cả những gì anh có thể dùng để tự vệ.
Klein và cô vệ sĩ chỉ cần bước sang bên một bước, ánh đèn bão đã chiếu sáng huy hiệu trên cánh cửa lớn kế bên. Đó là hình vẽ cách điệu một đứa trẻ sơ sinh được bao quanh bởi bông lúa, hoa tươi và suối nước.
“Huy hiệu Thần thánh của Mẫu Thần Đại Địa...” Klein nói, giọng trầm thấp và nghiêm nghị. Anh cũng từng là một Kẻ Gác Đêm, phân biệt biểu tượng của các giáo hội khác là một trong những kỹ năng cơ bản.
Cô vệ sĩ khe khẽ gật đầu, như để xác nhận.
Bộ váy dài cung đình màu đen kiểu Gothic của cô đã trở nên âm u, đáng sợ hơn trong khung cảnh và bầu không khí này. Gương mặt nhợt nhạt trông chẳng khác nào oan hồn dưới ánh đèn bão. Nếu nhà thám hiểm nào đặt chân tới đây và trông thấy cảnh tượng đó, chắc hẳn sẽ sợ chết khiếp, ba chân bốn cẳng chạy mất dép.
Klein nín thở, vươn tay trái ra, dùng sức đẩy cửa đá, đồng thời giơ cao đèn bão. Anh nhận thấy bố cục nơi này giống hệt căn phòng trước, một sự kết hợp hoàn hảo giữa một phòng cầu nguyện cỡ nhỏ và một bức tượng khổng lồ.
Bước qua khoảng đất trống lát đá màu lúa mì, Klein soi đèn về phía ba bậc thềm ở phía trước.
Trên bậc thềm là một bức tượng đá trắng muốt cao bốn, năm mét, tạc hình một người phụ nữ đầy đặn, dịu dàng. Những bông lúa mì mọc cao cùng nước suối bao quanh chân bà, chiếc váy thướt tha cài đủ loại hoa cỏ, thảo dược cùng hình ảnh muông thú. Người phụ nữ bế một đứa trẻ đáng yêu nằm trong tã lót, toàn thân toát lên vẻ thánh thiện và trang nghiêm.
“Chẳng lẽ là tượng Mẫu Thần Đại Địa?” Klein nhếch môi, nói khẽ.
Cô vệ sĩ không trả lời cũng chẳng phủ nhận.
Kiểm tra một vòng, hai người rời khỏi căn phòng này, mở tiếp cánh cửa thứ ba. Sau cánh cửa là một hành lang đủ cho bốn người đi song song, phía trước tối om, bí hiểm đến rợn người, chẳng biết thông tới nơi nào.
“Cứ kiểm tra xem sau bốn cánh cửa bên phải có gì trước đã.” Klein đề nghị.
Anh không dám mạo hiểm đi tiếp.
Cô vệ sĩ bay lùi về phía sau, dùng hành động để trả lời.
Hai người lần lượt mở bốn cánh cửa đá bên phải, nhìn thấy Huy hiệu Thần thánh Bão Táp được tạo thành từ ký hiệu cuồng phong và sóng dữ, Huy hiệu Thần thánh Mặt Trời với những đường kẻ ngắn chồng lên nhau, Huy hiệu Chiến Thần gồm ký hiệu hoàng hôn và thanh kiếm, cùng Huy hiệu Thần thánh Tri Thức Và Trí Tuệ được thể hiện bằng một con mắt toàn trí và cuốn sách để mở.
Phòng nào cũng có một bức tượng có thể là tượng thần tương ứng với chúng. Một người đàn ông trung niên uy nghiêm mặc giáp đen, chân đạp sóng dữ, thân quấn bão tố, lưng khoác sấm sét, tay cầm đinh ba. Một chàng trai trẻ khôi ngô đầy sức sống khoác trên mình chiếc áo choàng trắng tinh, một tay cầm sách giao ước một tay nâng quả cầu vàng rực như mặt trời. Một chiến binh ngồi trên ngai vàng, chống thanh kiếm dài trước mặt, khuôn mặt ẩn sau lớp mặt nạ giáp, bộ giáp toàn thân toát lên vẻ tàn tạ khó tả. Và một ông lão cầm sách cùng con mắt toàn trí, đầu trùm mũ kín mít, chỉ lộ ra khuôn miệng, những nếp nhăn cùng chòm râu dài màu trắng.
Trừ Thần Hơi Nước và Máy Móc ra thì cả sáu vị thần chính thống đều có phòng cầu nguyện và tượng hình người trong đại sảnh quái dị này! Xét đến vị thế yếu kém của Giáo hội Thần Hơi Nước Và Máy Móc trước khi Roselle xuất hiện, vấn đề này dường như đã có lời giải thích.
“Dị thật đấy...” Klein buột miệng cảm thán, nửa là không kìm được, nửa muốn thăm dò phản ứng của cô vệ sĩ.
Trong một tòa đại điện hùng vĩ sâu cả trăm mét thế này mà lại tập hợp đủ sáu vị thần chính thống, đây là chuyện không thể tưởng tượng nổi ở thời đại ngày nay! Làm sao Giáo hội của sáu vị Chân Thần lại để Chúa của mình và các vị thần khác cùng tồn tại trong một tòa nhà được!
Đây là phong tục chỉ có ở Kỷ Thứ Tư xa xưa à? Còn nữa, mấy bức tượng hình người đó là sao, thoạt nhìn thì rất bình thường, không tà ác hay quái dị như tượng của Ma Nữ Nguyên Sơ hoặc Chúa Sáng Tạo Đích Thực, nhưng cứ kỳ kỳ sao ấy…
Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì khiến hình tượng của sáu vị thần lại diễn biến thành những ký hiệu trừu tượng như hiện nay... Không, có lẽ ngay từ đầu đã là vậy rồi. Chẳng qua là do chủ nhân của nơi này, đại quý tộc có khả năng là thành viên gia tộc Tudor kia đã cố ý tạc sáu bức tượng thần dạng người vì mục đích nào đó… Chà, tự dưng lại nhớ Lục Hồn Phang (1) trong cuốn tiểu thuyết mà kiếp trước mình từng đọc… Trong lúc chờ cô vệ sĩ trả lời, Klein để mặc trí tưởng tượng bay xa.
Cô vệ sĩ không đả động gì đến chuyện này, chỉ bình thản đáp bằng giọng nhẹ như tơ, “Vẫn còn một cánh cửa nữa.”
Phải rồi... Klein bỗng thấy sờ sợ.
Theo anh, cánh cửa đặt ở vị trí trung tâm thường mang ý nghĩa đặc biệt, rất có thể là khu vực cốt lõi của công trình cổ xưa này. Tất nhiên, điều đó cũng hay đồng nghĩa với mối nguy hiểm lớn nhất.
“Cô thấy sao về chỗ đó?” Klein do dự hai giây rồi hỏi thẳng.
Nếu không có sương mù xám để loại trừ nhiễu loạn, anh thấy linh cảm và trực giác linh tính của cô vệ sĩ còn đáng tin hơn khả năng bói toán hiện tại của mình. Rốt cuộc trạng thái của cô ấy rất đặc biệt, gần giống linh thể, nên có thể giao tiếp với Linh Giới và tiếp nhận mặc khải một cách thông suốt.
Cô vệ sĩ nhắm mắt lại, mấy giây sau mới trả lời, “Rất nguy hiểm, nhưng mối nguy hiểm đó đã bị kìm hãm. Khi tiến vào sâu bên trong thì đừng tùy tiện động vào thứ gì.”
Nguy hiểm bị kìm hãm... Tức là bên trong đang phong ấn thứ gì đó hả? Klein suy đoán trong lúc đi theo cô vệ sĩ đến trước cánh cửa đá ở giữa, đặt chân lên nền đá đen sẫm.
Ánh lửa trong đèn bão dường như yếu đi đôi chút, rất vất vả mới xua tan bóng tối phía trước. Klein đã đút sẵn tay trái vào túi áo, nắm chặt [Còi Đồng Của Azik] cùng mấy tấm bùa chú.
Đi được khoảng ba mươi bước, cô vệ sĩ bỗng dừng lại. Klein giơ đèn bão bên tay phải lên, phát hiện lối đi phía trước đã bị đá tảng và bùn bịt kín. Hai bên trái phải có hai cánh cửa đá cùng kiểu dáng với đại sảnh, cánh bên phải đang khép hờ, bên trong cũng bị đất đá lấp đầy.
“Có khi công trình cổ này vốn được xây trên mặt đất, sau đó không hiểu sao lại chìm xuống lòng đất và bị sập một phần.” Klein lầm bầm. “Chúng ta chỉ còn một hướng để chọn…”
Lời còn chưa dứt, anh đã thấy cô vệ sĩ bay về phía trước, áp người vào tảng đá khổng lồ rồi tan vào đó, biến mất tăm.
Khóe miệng Klein giần giật, bắt đầu kiên nhẫn chờ đợi. Vài phút sau, cô vệ sĩ chui ra từ đống đất đá bên phải, trên người không vương một hạt bụi.
“Sập hoàn toàn rồi.” Cô bình tĩnh đưa ra kết luận.
Klein nhất thời nghẹn lời, đành cười trừ. Tiếp theo, hai người đồng thời nhìn sang cánh cửa he hé ở bên trái.
Klein bước lại gần, thận trọng ghé mắt qua khe hở rộng chừng ba xăng-ti-mét, nhìn vào bên trong.
Linh nhãn từng bị cửa đá ngăn trở lập tức phát hiện ít nhất bốn luồng ánh sáng tâm linh mạnh mẽ đang lấp lánh, hai luồng có màu gần như vàng đồng, hai luồng xanh thẫm như biển khơi nhấp nháy ở trong.
Khi Klein kích hoạt linh nhãn, trước mắt anh xuất hiện thêm một cảnh tượng 'hẹp': ánh lửa từ bên ngoài chiếu vào phòng, rọi lên những phiến đá đen. Trên đó là từng đống hài cốt phủ đầy quần áo mục nát, trong đó có vài bộ phát ra ánh sáng vàng tối và xanh thẫm.
Đây là đặc tính phi phàm đã ngưng tụ à? Hay là vật phẩm thần kỳ? Trong thoáng chốc, ánh mắt Klein quét đến cuối phòng, nơi có một cửa hai cánh đồ sộ, đẫm máu trên bức tường tối màu!
Máu tươi dường như vẫn còn dính trên đó, và đang chảy tong tỏng dưới ánh lửa.
Klein vốn định để cô vệ sĩ đi dò đường, đột nhiên cảm thấy [Còi Đồng Của Azik] trong lòng bàn tay đã thay đổi, cảm giác lạnh lẽo êm dịu ban đầu bỗng trở nên buốt giá đến thấu xương, thâm trầm và chết chóc!
Chuyện này... Klein nheo mắt, lùi lại một bước theo bản năng. Ngay sau đó, anh nhận thấy cẳng tay phải tê dại ngứa ngáy, bắt đầu sưng phồng lên. Một hình ảnh lóe lên trong đầu. Anh lập tức rút lá bài Tarot bằng tay trái, rạch ngay một đường trên cẳng tay phải. Trào ra từ vết thương không phải là máu mà là những con giun đen nhỏ xíu đang ngoe nguẩy!
Xèo!
Lũ giun đen rơi xuống đất, bốc lên làn khói như bị ăn mòn. Chúng cố gắng tụ lại với nhau nhưng cuối cùng vẫn tan chảy dưới ánh đèn bão.
Vài giây sau, lũ giun đen trong vết thương của Klein cuối cùng cũng trôi hết, máu đỏ bắt đầu rỉ ra. Anh co cơ bắp lại, kiểm soát vết thương nhỏ, ngăn máu tiếp tục chảy.
Cô vệ sĩ im lặng quan sát cảnh tượng này, đôi lông mày thanh tú thậm chí còn cau lại.
Klein định mở miệng thì phát hiện cái lạnh buốt và chết chóc đến từ [Còi Đồng Azik] vẫn không hề giảm bớt. Đồng thời, anh lia mắt qua cái bóng của cô vệ sĩ. Cô ta vốn đâu có bóng!
“Chạy!” Klein kêu lên rồi lập tức co giò chạy về phía đại sảnh. Cô vệ sĩ hối hả bay theo, cả hai đều phát hiện ánh đèn bão phía trước dần bị một bóng đen nuốt chửng.
Cộc cộc cộc!
Klein dốc toàn lực chạy thục mạng trong ánh sáng ngày càng mờ mịt, phi nhanh tựa như một cơn lốc.
Cộc cộc cộc!
Bóng đen càng lúc càng lớn, càng lúc càng gần, càng ngày càng đậm đặc. Ánh lửa sắp sửa bị nuốt chửng. Lúc này, họ vẫn còn cách cửa lớn khoảng vài mét.
Đúng lúc ấy, theo bản năng, Klein đột ngột lao cả người về phía trước, rồi lập tức lăn một vòng, vượt qua cửa đá.
Ánh lửa đột ngột sáng bừng lên, nỗi bất an trong lòng anh tan biến ngay tức khắc, cảm giác lạnh lẽo và êm dịu quen thuộc lại tỏa ra từ chiếc [Còi Đồng Azik] trong lòng bàn tay.
Cô vệ sĩ lơ lửng bên cạnh anh, xoay người nhìn hành lang đã lại chìm trong bóng tối sâu thẳm, giọng nói có chút không xác định, “Ác Linh...”
Ác Linh? Nghe thế, Klein suýt giật mình, may mà “Tên Hề” cực kỳ am hiểu kiểm soát biểu cảm và phản ứng của bản thân.
Trong lĩnh vực thần bí học, Ác Linh là quái vật cực kỳ kinh khủng, vô cùng đáng sợ, những con mạnh nhất thậm chí có thể sánh ngang với người mạnh mẽ thuộc Danh Sách cao!
Ác Linh lảng vảng trong công trình cổ xưa ư? Một Ác Linh bị kìm hãm, hay nói đúng hơn là bị trói buộc trong căn phòng kia vì lý do nào đó? Ừm... Thể nào còi của thầy Azik lại có phản ứng, Ác Linh cũng tính là một dạng sinh vật bất tử mà… Klein đứng thẳng dậy, hướng tầm mắt về phía hành lang đã bị bóng tối nhấn chìm, cảm thấy bên trong dường như có một đôi mắt lạnh lẽo đang nhìn lại!
Trong đại sảnh âm u lạnh buốt, Klein bất thình lình rùng mình, cụp mắt xuống và nói với cô vệ sĩ, “Về thôi.”
Dựa vào phản ứng lúc nãy của [Còi Đồng Azik], căn phòng trong cùng kia chắc hẳn ẩn chứa một Ác Linh rất đáng sợ, có khi thứ này còn nguy hiểm hơn cả “Bậc Thầy Múa Rối” Rosago và “Trung Tướng Cuồng Phong” Keelings… Nó lảng vảng ở đây cả trăm, nghìn năm, biết đâu đã ngang tài ngang sức với cường giả Danh Sách cao rồi. May mà sức mạnh của nó không thể lọt ra khỏi phòng, không thì giờ mình đã đắp chiếu cũng nên... Cho dù cô vệ sĩ là cao thủ hàng đầu trong Danh Sách 5 đi chăng nữa, hai đứa mình cộng lại cũng gần như chẳng có cửa lật kèo… Làm người phải biết tự lượng sức mình, không thể bị “kho báu” có thể là đặc tính phi phàm và vật phẩm thần kỳ dụ dỗ được... Tham lam thường dẫn đến cái chết... Klein âm thầm tìm lý do, tự thuyết phục bản thân.
Cô vệ sĩ nghiêng đầu nhìn anh, ánh mắt không chút cảm xúc khi hỏi, “Sau đó thì sao?”
Sau đó? Klein cười khổ, cân nhắc từ ngữ rồi đáp, “Bảo Miller Carter báo cảnh sát thôi. Ai mà biết được khi nào con Ác Linh đó thoát ra, giải quyết được nó càng sớm thì càng tốt. Không, không được, ông Carter không biết nhiều lắm. Báo cảnh sát kiểu này thì bên đó sẽ chẳng để tâm nhiều. Những người đầu tiên đến điều tra và thăm dò ắt sẽ chịu thương vong nặng nề, thậm chí có khả năng gián tiếp giúp Ác Linh thoát khỏi trói buộc. Với lại, nhìn thấy mấy bức tượng thế này, không khéo thám tư như tôi sẽ bị diệt khẩu mất… À mà cô có nhìn thấy đống xương và ánh sáng linh tính trong phòng không?”
Cô vệ sĩ lại liếc nhìn hành lang tối om sau cánh cửa đá nửa mở và hơi gật đầu.
Đầu óc Klein xoay chuyển như chong chóng, anh nói, “Tôi đoán đó đều là thi thể của người thám hiểm trước đây, họ đã bị Ác Linh sát hại ngay trong căn phòng đó. Trong số họ có Kẻ Phi Phàm nên mới để lại vật phẩm thần kỳ như vậy. Chuyện này có thể có liên quan đến gia tộc Tử tước từng sống ở nhà ngoài. Tôi dự định tìm hiểu dòng họ, đến thư viện tra cứu tài liệu rồi hỏi thăm con cháu nhà đó xem có kiếm được manh mối hữu ích nào không.
“Đợi xác nhận sơ bộ tình hình xong, tôi sẽ căn cứ vào mức độ nghiêm trọng để đưa ra quyết định, có thể kiếm ít thuốc nổ phá hỏng cửa luôn, không cho người khác vào nữa, cũng có thể gửi thư nặc danh cho bên cảnh sát, nêu rõ sự tồn tại của Ác Linh, nhưng phải nghĩ ra cách né tránh rủi ro trước. Đây không phải chuyện khẩn cấp, có thể từ từ làm.”
Cô vệ sĩ lẳng lặng nghe, mắt nhìn thẳng phía trước, rồi cất giọng hư ảo, “Anh không tính đến chuyện tập hợp nhân lực để thanh tẩy Ác Linh đó sao? Cho dù không còn sót vật phẩm thần kỳ nào thì chỉ riêng những gì Ác Linh để lại sau khi nó tiêu tán cũng có giá trị rất lớn rồi.”
Đây là lần đầu tiên tôi thấy cô nói nhiều như vậy… có lẽ thế… Klein đáp ngay tắp lự, “Rủi ro cao lắm, tôi thấy mạng sống và sức khỏe mình quan trọng hơn.”
Anh sắp xếp lại từ ngữ rồi bổ sung, “Cô chính là người mạnh mẽ nhất mà tôi quen. Nhưng nhìn cách cô phản ứng ban nãy thì có vẻ cô cũng chẳng thắng nổi Ác Linh đó. Tôi không nghĩ ra cách giải quyết nào ngoài việc báo cảnh sát cả.”
Cô vệ sĩ xoay người lại, gương mặt nhợt nhạt có phần trong suốt, “Anh vẫn còn lý trí đấy.” Cô lạnh lùng buông lời bình luận rồi bay về phía lối ra của đại sảnh cổ xưa.
Ngoài chuyện có khả năng bị Chúa Sáng Tạo Đích Thực ảnh hưởng ra thì tôi điên chỗ nào chứ? Klein thầm bật lại, xách đèn bão và batoong theo sát cô vệ sĩ.
Suốt quãng đường ấy, anh luôn có cảm giác bị theo dõi bởi bởi ánh mắt lạnh tanh trong hành lang tối tăm, mãi đến khi bước ra khỏi cánh cửa đá lớn cổ xưa thì cảm giác đó mới đột ngột biến mất.
Klein xoay người, khép cửa lớn lại, niêm phong những đế nến lộn ngược, vết rìu chém và sáu tượng thần đầy kỳ dị vào bên trong, để chúng tiếp tục say giấc trong màn đêm tăm tối và tĩnh mịch đã kéo dài hơn một nghìn năm.
Phủi bụi trên quần áo, anh đổi tay cầm đèn bão rồi rảo bước quay lại tầng hầm nhà Miller Carter, còn cô vệ sĩ đã biến mất như thường lệ.
Miller Carter đang đi đi lại lại trong tầng hầm, thấy Klein đi ra liền vội vàng hỏi, “Sao rồi? Bên trong thế nào?”
Klein đã soạn sẵn kịch bản trong đầu, làm ra vẻ sợ hãi, “Tệ lắm, nhiều rắn kinh khủng, lại còn sập không ít chỗ. Tôi định thu thập thêm thông tin, gom đủ người, chuẩn bị kỹ càng rồi mới thám hiểm lần hai. Tốt nhất là ông đừng cho ai vào đó trong thời gian này. Tin tôi đi, rắn độc nhiều hơn ông tưởng đấy.”
Quý ông Miller hít nhẹ một hơi, hơi hốt hoảng hỏi, “Chúng có bò sang đây không? Anh có quen chuyên gia bắt rắn nào không?”
Klein lập tức gật đầu, “Tôi sẽ tìm người hợp tác, cố gắng xử lý ổn thỏa vụ này. Giờ đã là cuối thu, trời lạnh rồi, lũ rắn lười vận động lắm, chỉ cần ông không để ai quấy nhiễu chúng thì sẽ không sao đâu.”
“Được, nhờ anh nhanh nhanh cho. Mấy ngày này tôi sẽ đóng chặt cửa, không cho ai bén mảng vào.” Nghe vậy, Miller có chút thả lỏng.
Thấy những lời nửa thật nửa giả đã dọa được ông chủ nhà, Klein đặt đèn bão xuống, chỉnh lại kính gọng vàng và nói, “Tiếp theo, tôi sẽ phải thu thập tài liệu để nắm bắt sơ bộ về bố cục của công trình ngầm đó rồi mới thám hiểm tiếp. Thế nên ông phải cho tôi biết chủ cũ của căn nhà này là vị Tử tước nào mới được.”
Miller mua căn nhà này chỉ vì cái mác tài sản của cựu quý tộc, ông ta trả lời ngay, “Tử tước Pound.”
“Ông biết gì về ông ta và gia tộc ông ta không?” Klein ra vẻ chuyên nghiệp hỏi dồn.
Miller ngẫm nghĩ rồi đáp, “Tôi cũng không rành lắm, chỉ biết họ giành được tước hiệu nhờ công lao trong ‘Chiến tranh Bội Ước’, cũng từng có một thời hiển hách. Thế nhưng mấy chục năm trước thì bỗng dưng suy vong mà không ai biết lý do tại sao, người thừa kế liên tục qua đời, buộc phải tìm họ hàng xa để duy trì tước vị. Còn Tử tước Pound đời mới nhất… Ha ha, nói chung ông ta đã phung phí hết gia tài, bị nhà vua giáng thành Nam tước. Hiện giờ ông ta vẫn còn ở Backlund, nhưng sắp phá sản đến nơi rồi.”
Chiến tranh Bội Ước? Cuộc chiến bắt đầu vào năm 738 Kỷ Thứ Năm? Sinh viên thành công tốt nghiệp khoa Lịch sử như Klein bắt đầu lục lọi lại kiến thức tương ứng theo phản xạ.
Đó là một cuộc thánh chiến xảy ra cách đây hơn sáu trăm năm. Vương quốc Feynapotter ở phía Nam vốn thờ cả Mẫu Thần Đại Địa lẫn Thần Tri Thức Và Trí Tuệ. Thế nhưng, do tác động của một số nhân tố nào đó, hai giáo hội lớn nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, các tín đồ cũng thường xuyên xung đột.
Lúc bấy giờ, hai người hàng xóm phương Bắc là Vương quốc Loen và Vương quốc Intis đã chớp lấy thời cơ, mượn cớ bảo vệ tự do tín ngưỡng để phát động chiến tranh. Giai đoạn sau, Đế quốc Feysac cũng tham chiến, cố gắng phá hoại âm mưu của Loen và Intis, nhưng không có cách nào xoay chuyển cục diện, đành chấp nhận thất bại.
Kết quả của cuộc chiến tranh là ba quốc gia Lenburg, Masin nằm ở biên giới giữa Loen-Feysac và Segal giáp ranh Intis-Feysac tuyên bố độc lập. Những quốc gia này chủ yếu tôn thờ Thần Tri Thức Và Trí Tuệ, trong khi Feysac chỉ còn Giáo hội Mẫu Thần Đại Địa.
Do hai bên tham chiến đều chỉ trích đối phương vi phạm “Thệ Ước Thần Thánh” cuối Kỷ Thứ Tư, nên cuộc xung đột kéo dài suốt năm năm này được đặt tên là “Chiến Tranh Bội Ước”.
Kể từ đó, Lục địa Bắc trải qua thời kỳ hòa bình kéo dài hơn ba trăm năm. Không phải các nước không còn xung đột với nhau, chỉ là không còn chiến tranh quy mô lớn như trước mà thôi. Tình trạng này kéo dài cho đến khi Roselle phát minh ra máy hơi nước, cải tiến thuyền buồm và đại bác.
Đó là những gì sách giáo khoa lịch sử ghi chép... Giờ nghĩ lại mới thấy, đã động đến tín ngưỡng thì kiểu gì cũng có sự tham gia của Kẻ Phi Phàm thuộc giáo hội. Ở hậu trường chắc chắn đã diễn ra một cuộc chiến siêu phàm khốc liệt… Có điều, nghe nói thời đó siêu phàm đã trở nên hiếm hoi, số lượng Kẻ Phi Phàm cũng không nhiều… Đánh nhau theo kiểu biệt đội à? Liệu chuyện gia tộc Pound đột nhiên suy tàn, liên tục mất người thừa kế vào mấy chục năm trước có liên quan gì đến việc phát hiện ra công trình cổ xưa dưới lòng đất kia không nhỉ?
Klein hỏi với vẻ suy tư, “Ông biết Nam tước Pound hiện đang sống ở đâu không?”
“Xin lỗi, cái này thì tôi không rõ.” Miller khẽ lắc đầu.
Klein hỏi thêm vài câu, thấy không moi được thông tin nào khác, bèn nói lời chào tạm biệt rồi trở về số 15 phố Minsk.
Lúc này đã hơn năm giờ chiều, trời âm u tối tăm như thể đã vào đêm. Klein nghĩ các thư viện công cộng chắc hẳn đã đóng cửa, nên tạm gác chuyện công trình dưới lòng đất lại, bắt đầu chuẩn bị bữa tối cho mình.
Anh vốn định thử làm món mì Feynapotter theo công thức trên báo, không ngờ lại tạo ra món mì thập cẩm trộn thịt, sốt và rau có hương vị khá ngon.
Ăn uống no nê, Klein thảnh thơi tung đồng xu xem có nên báo cảnh sát không, câu trả lời là không.
Backlund về đêm yên tĩnh như bao thành phố khác, ít nhất là ở quận Cherwood.
Klein đang ngủ ngon lành, mơ màng lang thang giữa cõi mộng thì đột nhiên giật mình tỉnh giấc, nhận ra mình đang nằm mơ.
Ai đó xâm nhập giấc mơ của mình à? Klein cố nén cơn xúc động muốn nhíu mày, giả đò như mơ mơ màng màng nhìn xung quanh.
Anh thấy mình đang đứng giữa một sa mạc vàng nóng rẫy. Thình lình, trên trời vang vọng tiếng gầm thét. Một con quái vật khổng lồ màu đen pha vàng bay tới. Con quái vật to lớn có thân hình thằn lằn, một đôi cánh da khổng lồ đang sà xuống ngày một thấp, che khuất mặt trời trên cao.
Một con rồng khổng lồ! Một con rồng hùng mạnh! Klein nhìn thấy những chiếc vảy to bằng cái đĩa, cái mồm khổng lồ phát ra ánh sáng thuần khiết và hai con ngươi dọc màu vàng sẫm.
Gào!
Con rồng khổng lồ phun ra luồng ánh sáng, ánh sáng vô cùng vô tận bao trùm tất cả, xóa sổ cả vùng sa mạc rộng lớn.
Trong luồng sáng ấy, một bóng người nhảy vọt lên không trung. Người đó cao tới ba, bốn mét, nhưng không có con mắt độc nhất dựng đứng đặc trưng của tộc khổng lồ; hắn có khuôn mặt trẻ trung, tuấn tú, khoác trên mình bộ giáp toàn thân đen tuyền vấy máu.
Vị kỵ sĩ khổng lồ vung thanh đại kiếm chém từ dưới lên. Vô số ngọn lửa xanh trắng pha tím ngưng tụ thành trường thương, bắn như mưa về phía con rồng khổng lồ, như thể có cả một quân đoàn Kẻ Phi Phàm hư ảo đang yểm trợ hắn!
Trong cơn mưa lửa, kỵ sĩ khổng lồ nhảy lên đầu rồng rồi vung kiếm chém xuống. Những tàn ảnh hắn để lại lập tức chồng lên nhau, ánh kiếm hóa thành những tia chớp đan xen.
Đùng!
Mặt đất rung chuyển dữ dội, con rồng khổng lồ ngã xuống, chảy máu vàng sậm.
Lúc này, cảnh tượng đột ngột đổi sang một cánh cửa lớn đẫm máu. Đó chính là cánh cửa đỏ ngòm mà Klein đã nhìn thấy ở nơi sâu nhất của công trình cổ vào chiều nay.
Két một tiếng, cánh cửa đẫm máu hé mở, loáng thoáng có thể nhìn thấy một người đàn ông bình thường đang ngồi trên ghế lưng cao, mặt cúi gằm, im lặng và không hề cựa quậy.
Tầm nhìn mỗi lúc một gần. Klein nhìn kỹ trang phục của người đàn ông này, nhận ra hắn chính là người kỵ sĩ diệt rồng. Bộ giáp đen vấy máu vẫn còn nguyên trên người, chỉ khác là không còn cao ba bốn mét nữa.
Ngay lúc đó, người đàn ông ngẩng phắt lên, khuôn mặt trẻ trung điển trai đầy những vết loét thối rữa đến lòi cả xương, đôi mắt thì lạnh lùng tàn nhẫn.
Klein giật bắn người, choàng tỉnh. Vừa mở mắt ra, anh đã thấy ánh trăng đỏ thẫm lọt qua rèm cửa.
#Chú Thích:
Lục Hồn Phang là món pháp bảo của Thông Thiên giáo chủ trong tiểu thuyết Phong Thần Diễn Nghĩa. Sau khi bị Lão Tử đập một gậy, Chuẩn Đề đánh một trận, mất bốn gươm, nhục một trận, giáo chủ bèn dắt đệ tử lên núi Tử Chi, lập đàn luyện phép làm một cây phướn sáu lá đề tên sáu kẻ thù và gọi là Lục hồn phang hoặc cây phướn Lục hồn.
꧁༺Người dịch Kouji - Hiệu đính Quân Nhất Thanh - Đăng tải tại Hako.༻꧂